Ngọc Triền Chi - Hảo Đại Nhất Đĩnh Ngân

Chương 47


Chương trước Chương tiếp

🪷 Chương 47: Hồi kinh

🪷 Editor: Thảo Anh

Khi đến cổng thành Lật Thành, như thường lệ, cần phải kiểm tra lộ dẫn và trình bày lý do vào thành. Lận Đàn điềm nhiên xưng rõ họ tên, thân phận, đồng thời trình bày mục đích về kinh phục mệnh. Đám binh lính gác cổng thoạt đầu còn ngờ vực, nhưng sau khi xem xét kỹ lưỡng, vẻ mặt từ sự nghiêm nghị thường thấy chuyển sang kinh ngạc tột độ.

“Lận đại nhân?”

Tên lính canh trố mắt nhìn vị công tử trẻ tuổi vừa thò đầu ra từ xe ngựa. Dẫu đối phương chỉ bận bộ đồ vải thô, người lại gầy gò quá đỗi, nhưng gương mặt vẫn toát lên vẻ tuấn tú thanh tao, một nụ cười khẽ cũng khó lòng che giấu được phong thái phi phàm.

Hồi còn xảy ra trận đại hồng thủy, mọi người đều đã ký giấy sinh tử, vì để chống lũ cứu đê mà bất chấp tính mạng lấy thân mình lấp lỗ hổng. Lận Đàn cũng có mặt tại đó, nên phần lớn quan binh trong thành đều từng gặp mặt chàng.

Thêm vào đó, khuôn mặt ấy thực sự khiến người ta chỉ nhìn một lần là nhớ mãi không quên, muốn quên cũng khó.

Tên quan binh sực tỉnh, lập tức mừng rỡ kêu lên: “Lận đại nhân chưa chết!”

Tin tức như mọc thêm cánh, lan truyền chóng mặt trong nội bộ quan trường Lật Thành.

Vị Lận đại nhân lập nhiều chiến công hiển hách nhưng không may hy sinh vì nhiệm vụ, năm ngoái đã được triều đình truy phong, nay vậy mà vẫn còn sống sờ sờ trở về. Một tin tức chấn động như thế cứ một đồn mười, mười đồn trăm. Xe ngựa chỉ vừa mới đi qua cổng thành chưa được bao lâu, toàn thành đã râm ran tin tức này.

Sau khi xác minh thân phận, chẳng ai dám chậm trễ, dọc đường mở lối cho xe qua.

Lận Đàn lấy làm lạ trước thái độ cung kính của mọi người dành cho mình. Trên đường vào thành ban nãy, chàng đã nghe Lận Chiêm kể lại nguyên cớ mình rơi xuống nước mất tích.

Thì ra chàng là một trong những quan viên được triều đình phái đến Lật Thành để trị thủy. Vào cái đêm mưa bão dịp Trùng Dương, trong lúc đi tuần tra đê điều, chàng bị dòng nước lũ cuốn trôi. Quan binh không tìm thấy xác chàng, chỉ vớt được một mảnh áo rách rưới dạt vào bờ. Suy cho cùng, khả năng sống sót sau khi bị lũ cuốn là vô cùng mong manh, nên mọi người mới đinh ninh rằng chàng đã chết.

Thế nhưng không ngờ, bị nước lũ cuốn đi trong đêm tối mịt mùng, chàng vậy mà vẫn còn sống sót. Chính bản thân Lận Đàn nghe xong cũng chẳng dám tin, không biết thứ gì đã chống đỡ cho cái thân xác trọng thương của chàng cố bấu víu lấy chút hơi tàn.

Giờ nhớ lại những ngày đầu mới tỉnh lại, Lận Đàn chỉ cảm thấy thần trí mình vô cùng hỗn loạn, cứ như thể luôn đắm chìm trong những giấc mộng. Nhưng rốt cuộc mơ thấy gì thì chàng cũng chẳng rõ, dường như luôn có một giọng nói văng vẳng bên tai: Đừng chết, có người đang đợi huynh về nhà.

Cũng chính vì câu nói ấy, Lận Đàn không can tâm nhắm mắt xuôi tay. Chàng cứ thế mà tỉnh lại, nhưng sau khi thức giấc, lại quên sạch sành sanh mọi thứ trong mộng.

Vào đến thành, ba người trước tiên quay về cái sân nhỏ mà Tô Ngọc Dung và Lận Chiêm đang ở tạm để thu dọn hành lý.

Hôm qua đi vội quá, quần áo phơi ngoài sân vẫn chưa kịp cất. Trên dây phơi giăng ngang sân viện, y phục của hai người, váy dài của nữ tử, trường bào của nam tử, bị gió cuốn tung bay quấn quýt lấy nhau.

Khắp nơi đều in đậm dấu vết chung sống của hai người, ngay cả áo tơi và nón lá treo sau cánh cửa cũng là đồ đôi.

Lúc bước chân vào sân, lòng Tô Ngọc Dung vốn vẫn còn nặng trĩu tâm sự, nhưng cửa vừa mở, nàng như sực nhớ ra điều gì đó, chạy thẳng một mạch vào trong.

Thấy vậy, Lận Đàn dõi theo bóng lưng hớt hải của nàng, lo lắng hỏi: “Tô cô nương bị sao vậy?”

Cuống cuồng lên như thế, cứ như có chuyện gì hệ trọng lắm đang chờ giải quyết vậy.

Lận Chiêm khép cửa lại, mí mắt cũng chẳng thèm chớp lấy một cái, thản nhiên đáp: “Đi cho gà ăn đấy, nàng ấy sợ mấy cục cưng bị đói.”

Giọng điệu của hắn vô cùng tự nhiên, như thể đã quá quen thuộc với chuyện này rồi.

“Cái gì cơ?”

Lận Đàn ngạc nhiên, thuận theo hướng nhìn của hắn.

Tô Ngọc Dung chạy vội tới bên chuồng gà ở góc tường, miệng cất tiếng gọi cúc c* khe khẽ. Mấy con gà đang tản bộ quanh quẩn trong hàng rào, ban nãy còn cảnh giác vì có người lạ đến, nay vừa ngửi thấy mùi quen thuộc của nàng liền vỗ cánh phành phạch bu lại, vây quanh nàng thành một vòng tròn. Bọn chúng đã lớn thêm không ít, có thể bay nhảy một quãng ngắn, cúi đầu mổ thóc rồi lại âu yếm cọ cọ vào gấu váy nàng.

“Xin lỗi nha… hôm qua đi gấp quá, quên cho bọn bay ăn no.”

Nàng khẽ lầm bầm, múc một bát thóc từ cái bát sành sau cửa bếp ra, đứng cạnh chuồng vung tay rải xuống. Một con gà mái hoa to gan bỗng nhảy phốc lên, đậu luôn trên đầu gối nàng. Tô Ngọc Dung không kịp trở tay, giật nảy mình, vội vàng xách cổ con gà vứt xuống.

Động tác này toát lên vẻ ngây ngô, đáng yêu và đầy sức sống của một thiếu nữ. Thấy vậy, khóe môi Lận Đàn khẽ nhếch, không nhịn được mà bật cười thành tiếng.

Tô Ngọc Dung vô thức ngoảnh đầu lại, chạm phải ánh mắt Lận Đàn.

Chàng đang đứng cách nàng không xa, nhàn nhã ngắm nhìn hành động của nàng. Bóng dáng chàng chìm trong vệt nắng ban mai rực rỡ, nụ cười trên môi được nắng hắt lên càng thêm rạng rỡ, ấm áp. Chàng thanh niên mày mắt cong cong, nụ cười an tĩnh: “Ngày nào cũng phải cho chúng ăn sao?”

Tô Ngọc Dung “a” một tiếng, không ngờ chàng lại hỏi câu này. Nàng suy nghĩ một chút rồi đáp: “Vâng… ngày nào cũng phải cho ăn, như thế chúng mới mau lớn, chứ để đói là chúng lại mổ lông nhau đấy.”

Chàng dường như cảm thấy rất thú vị, tò mò hỏi: “Mổ lông nhau là sao?”

Tô Ngọc Dung mím môi, giải thích: “Gà con mà đói bụng, sẽ cắn mổ lông của đồng loại, thậm chí còn ăn luôn cả trứng của mình để lót dạ… Trứng mà bị chúng ăn mất rồi, thì ta lấy đâu ra trứng mà ăn nữa…”

Tô Ngọc Dung nuôi gà chính là để bán trứng, ăn trứng. Ở quê nàng, một quả trứng có thể bán được tám văn tiền đấy! Ngày bé lúc ốm đau, nương thường ra chợ mua hai quả trứng, bỏ thêm chút đường đỏ, nấu thành canh trứng ngọt cho nàng ăn. Tô Ngọc Dung uống một bát xong, cả người nóng hầm hập, sang ngày hôm sau là khỏi bệnh ngay.

Nghe vậy, nụ cười trên môi Lận Đàn càng thêm rạng rỡ, ánh mắt lấp lánh, hệt như gió xuân mơn man, tao nhã như cây ngọc cành quỳnh.

Sau khi bị trọng thương, chàng thanh niên tiều tụy đi nhiều, nhưng làn da vẫn trắng trẻo tựa tuyết. Giờ phút này được ánh nắng ban mai soi rọi, khuôn mặt chàng càng thêm phần trong trẻo, tựa như khối ngọc mỹ lệ không tỳ vết.

Đây là nụ cười quen thuộc nhất với Tô Ngọc Dung, nay gặp lại, nụ cười ấy lại như một mũi kim nhỏ bé, đâm khẽ vào nơi mềm yếu nhất trong trái tim nàng.

Ngày trước ở Nhạn Bắc, hai vợ chồng cũng từng có một cái sân nhỏ như thế này. Vốn dĩ đó là nơi Tô Ngọc Dung chung sống cùng cha mẹ thuở xưa. Sau khi cha mẹ qua đời, nàng phải dành dụm mãi mới đủ tiền thuê thợ dựng lại một căn nhà nhỏ trên nền móng cũ. Hàng rào quanh sân cũng do chính tay nàng nhặt nhạnh cành cây trên núi về dựng lên.

Cái sân ấy còn đơn sơ hơn cái này nhiều, chỉ là một căn nhà tranh vách đất thấp lè tè. Mỗi lần Lận Đàn bước vào đều phải cúi đầu, nhưng bù lại ánh nắng rất chan hòa. Những ngày trời quang mây tạnh, cả căn nhà lúc nào cũng ngập tràn hơi ấm.

Từ nhỏ Tô Ngọc Dung đã thích nuôi những con vật nhỏ bé. Ngoài gà ra, nàng còn từng nuôi hai con thỏ lông xám xịt nhặt được lúc lên núi kiếm củi. Ban đầu chỉ định nuôi chơi cho vui, ai dè sau này chúng sinh sản ngày một nhiều… Cứ thế nhân lên mãi, Tô Ngọc Dung bắt đầu cung cấp thịt thỏ cho tửu lâu, nhờ thế mà kiếm được bộn tiền.

Về sau nàng còn tính dựng một cái chuồng bồ câu ở góc tường, nhưng Lận Đàn dở khóc dở cười khuyên ngăn, bảo phân chim bồ câu rơi rớt mất mỹ quan lắm. Sở dĩ có chuyện này là vì lúc nàng mới mang con đầu tiên về nuôi, con chim đó đã vô tư đi bậy lên quan phục của Lận Đàn. Tô Ngọc Dung đành ngậm ngùi từ bỏ ý định.

Nàng lại nhớ đến khoảng thời gian hai người mới quen nhau. Vì mang ơn nàng cứu mạng, Lận Đàn đã gửi tặng nàng rất nhiều lễ vật để tạ ơn. Tô Ngọc Dung ngại ngùng không dám từ chối, bản tính nàng vốn chẳng bao giờ biết nói chữ “không”. Nhưng sau đó càng nghĩ càng thấy bất an, thế là nửa đêm nàng lén trèo tường nha môn, lẳng lặng đặt hết những món đồ Lận Đàn tặng trả về giữa sân.

Vài ba lần như thế, Lận Đàn cũng hiểu được tính nết của nàng. Tặng đồ quý giá, nàng lại đâm ra không thoải mái. Thế là Lận Đàn bèn dò hỏi xem nàng thích thứ gì, bảo rằng đây là phần thưởng nha môn dành cho những tiểu thương buôn bán xuất sắc. Tô Ngọc Dung thẹn thùng vặn vẹo mãi, bảo mình cũng có làm gì to tát đâu mà được khen là xuất sắc.

Lận Đàn bảo, bởi vì nàng buôn bán ngay thẳng, không bao giờ cân điêu bán thiếu, quan phủ đều ghi nhận cả, nên mới thưởng cho nàng để làm gương cho những tiểu thương khác.

Tô Ngọc Dung bụng bảo dạ, huyện lệnh đại nhân chắc chắn sẽ không nói dối đâu, thế là nàng e thẹn bảo, nàng muốn nuôi gà con.

Lận Đàn phì cười, trao quyền chủ động cho nàng, những tưởng nàng sẽ đòi hỏi vàng bạc châu báu gì cơ, ai dè nàng chỉ cần gà con.

Nhưng cuối cùng chàng vẫn sai tiểu đồng ra chợ bắt hai mươi con gà con về tặng Tô Ngọc Dung.

Lúc nhận được, Tô Ngọc Dung mừng rỡ ra mặt, hớn hở vây lưới làm chuồng gà, chăm bẵm chúng như bảo bối. Lần nào Lận Đàn ghé thăm cũng thấy nàng ngồi xổm bên chuồng, cẩn thận đút cho gà con ăn kê ngâm mềm.

Lũ gà con lớn nhanh như thổi, lông lá mượt mà, bộ dạng oai vệ lắm. Nhưng đến lúc trưởng thành, đến lứa đẻ trứng thì chuồng gà lúc nào cũng trống không. Sáng sớm nào Tô Ngọc Dung cũng tràn trề hy vọng thò tay vào ổ mò mẫm, kết quả lần nào cũng thất vọng tràn trề, sầu não đến nhíu cả lông mày.

“Sao lại không đẻ trứng nhỉ?” Nàng ngồi xồm trước chuồng gà, rầu rĩ than thở với Lận Đàn đang đến thăm, “Thóc cũng cho ăn rồi, rau cũng băm rồi, nước cũng sạch sẽ mà… Liệu có phải chúng nó bị ốm không.”

Lận Đàn thấy nàng buồn phiền vì cái chuồng gà, trong mắt ánh lên sự tự trách, bèn bước tới, bắt chước dáng vẻ của nàng, vén vạt áo, chẳng mảy may kiêng dè ngồi xổm xuống bên cạnh nàng, nhẹ nhàng an ủi, bảo chàng sẽ nghĩ cách.

Chàng vốn là vị thiếu gia sống trong nhung lụa từ bé, gà mang đến trước mặt chàng đều đã được chế biến thành những món sơn hào hải vị rồi, làm sao chàng hiểu được mấy chuyện này.

Thế nhưng hai ngày sau, Lận Đàn lại đến tìm nàng, trên tay cầm một cuốn sách mỏng đã nhàu nhĩ, bìa sách mờ nhòe dòng chữ xiêu vẹo: “Những điều cần biết về chăn nuôi và nhân giống gà mái”.

Chàng bảo, hôm qua lúc dạo chợ, tình cờ thấy cuốn sách này ở sạp sách cũ, nghĩ bụng có lẽ sẽ hữu dụng nên mua về.

Tô Ngọc Dung không biết chữ, chỉ biết ngơ ngác nhìn cuốn sách. Lận Đàn bèn ngồi xuống bên cạnh nàng, lật mở từng trang sách, nhích lại gần nàng, rành rọt đọc từng câu từng chữ cho nàng nghe. Chàng đọc rất đỗi chú tâm, gặp phải những thuật ngữ chăn nuôi còn dừng lại, kiên nhẫn dùng những lời lẽ dễ hiểu để giải thích cặn kẽ cho nàng.

Giọng nói trong trẻo của chàng vang lên bên tai nàng: “‘Ánh sáng phải đủ, ổ đẻ cần tối và yên tĩnh’… Chuồng gà của nàng, có phải gần cổng quá không? Người ra kẻ vào tấp nập, e là làm chúng hoảng sợ đấy.”

Tô Ngọc Dung bừng tỉnh: “Hình như đúng thế thật! Ngày mai ta sẽ dời chuồng gà vào góc tường.”

Chàng lại đọc tiếp: “‘Thức ăn cần phong phú, có thể thêm chút vỏ ốc, bột xương giã nhuyễn…'”

Đọc xong, chàng quay sang nhìn nàng mỉm cười: “Phía sau nha môn của chúng ta có một con sông nhỏ, vùng nước nông thường có vỏ ốc ốc bươu bò lổn nhổn, ngày mai ta đưa nàng ra đó xem thử nhé?”

Tô Ngọc Dung vừa ngước mắt lên liền chạm ngay phải ánh mắt chàng. Khi ấy, ráng vàng của buổi hoàng hôn buông xuống, bao phủ lấy hai người đang kề vai ngồi xổm trước chuồng gà. Góc nghiêng của Lận Đàn dưới quầng sáng trông dịu dàng đến lạ. Hàng mi dài rủ xuống, chàng đăm chiêu nhìn vào trang sách, thỉnh thoảng ngước lên trò chuyện cùng nàng, trong đáy mắt phản chiếu hình bóng nàng, trong trẻo và ấm áp vô ngần.

Vị huyện lệnh đại nhân cao cao tại thượng trong mắt bách tính ấy, ánh mắt chẳng vương chút mảy may khó chịu hay khinh mạn nào, dường như việc giúp nàng giải quyết vấn đề gà mái không đẻ trứng, đối với chàng cũng hệ trọng ngang ngửa việc cai quản cả một thành trì vậy.

Hôm sau, họ quả thực đã làm đúng như sách dạy, dời chuồng gà sang chỗ khác. Lận Đàn cũng thực sự dẫn nàng ra phía sau nha môn để mò vỏ ốc. Chàng xắn ống quần, xắn tay áo, lội xuống mép nước mò mẫm giúp nàng được cả một rổ đầy ắp. Tô Ngọc Dung cẩn thận giã nhuyễn tất thảy rồi trộn vào thức ăn cho gà.

Chẳng rõ là trùng hợp hay phương pháp ấy thực sự công hiệu, không bao lâu sau, Tô Ngọc Dung quả nhiên mò được quả trứng đầu tiên hãy còn ấm nóng, lấm tấm chút tơ máu trong ổ rơm khô.

Lúc ấy nàng mừng rỡ đến mức suýt chút nữa nhảy cẫng lên. Cũng chẳng hiểu sao lại to gan đến thế, nàng nâng niu quả trứng trên tay, lập tức chạy thẳng đến nha môn để khoe chiến tích với Lận Đàn đang bận rộn công vụ. Đợi đến lúc chàng tan sở, bước từ trong ra, Tô Ngọc Dung vừa thấy bóng dáng chàng liền vẫy tay rối rít, mừng rỡ kêu to: “Lận đại nhân, Lận đại nhân, gà nhà ta đẻ trứng rồi!”

Tiếng hét ấy khiến mọi người xung quanh đều kỳ quái nhìn nàng. Tô Ngọc Dung vốn nhút nhát, e thẹn lập tức ngượng ngùng vô cùng, vội vàng cúi gằm mặt xuống, hai má đỏ bừng. Đúng lúc này, Lận Đàn bước nhanh xuống bậc thềm, đứng trước mặt nàng, cẩn thận đón lấy quả trứng, ngắm nghía một chốc rồi ngẩng lên mỉm cười với nàng: “Công sức của chúng ta không uổng phí rồi!”

Sau đó, Lận Đàn lại gọi đám quan lại tới gần, lần lượt khoe thành quả với từng người một. Mặt Tô Ngọc Dung nóng ran, nhưng trong lòng lại ngập tràn cảm giác tự hào.

Nhớ đến đây, trái tim Tô Ngọc Dung như bị ai bóp nghẹt. Ngày ấy Lận Đàn dùng hai chữ “chúng ta”, là thật lòng thật dạ coi chuyện của nàng như chuyện của chính mình. Còn giờ đây, chàng vẫn mỉm cười hiền hòa, vẫn tò mò cất tiếng hỏi han, nhưng tiếng “chúng ta” thân thuộc và tự nhiên ấy, e rằng mãi mãi chẳng thể nào nghe lại được nữa.

Tô Ngọc Dung xoay lưng lại, giả vờ như đang dọn dẹp đống quần áo phơi ngoài sân, cố chớp chớp mắt ngăn dòng nước chực trào nơi khóe mi.

Trong khi đó, Lận Chiêm đứng một bên, ánh mắt lạnh lẽo dõi theo hai người bọn họ.

Ngay từ đầu, hắn đã chẳng hề muốn đưa Lận Đàn về cái sân nhỏ này, không muốn cái tổ ấm vốn chỉ thuộc về riêng hắn và Tô Ngọc Dung lại bị một kẻ xa lạ xông vào. Nhưng ngặt nỗi, hôm qua hắn vừa mới giả vờ đáng thương, ngoan ngoãn lấy lòng tẩu tẩu, giờ mà tỏ vẻ bất mãn dù chỉ một chút thôi, thì có lý cũng thành vô lý mất.

Tô Ngọc Dung là kiểu phụ nữ hay chần chừ, thiếu quyết đoán. Nếu không ép nàng một chút, nàng có thể tự dằn vặt mình cả đời. Nhưng nếu ép uổng quá đáng, e rằng lại sôi hỏng bỏng không.

Hắn nắm chặt tay, cố dời tầm nhìn khỏi hai người bọn họ. May thay, mấy con gà cũng chẳng ngốn mất nhiều thời gian, Lận Chiêm theo chân Tô Ngọc Dung bước vào phòng ngủ.

Nàng đang định thu dọn hành lý, Lận Chiêm thấy vậy liền lên tiếng hỏi: “Tẩu tẩu đã quyết định sẽ cùng đệ lên kinh thành rồi sao?”

Tô Ngọc Dung gần như chẳng chút đắn đo, gật đầu cái rụp.

Trong lòng Lận Chiêm lúc bấy giờ mới vơi đi đôi chút sự bực dọc.

Thế nhưng nghĩ lại, nàng nhận lời sảng khoái đến vậy, dường như là vì có sự hiện diện của Lận Đàn.

Dạo trước khi chuẩn bị lên kinh ứng thí, hắn từng ngỏ ý muốn nàng đi cùng. Tô Ngọc Dung đắn đo hồi lâu, rốt cuộc lại lấy cớ muốn ở nhà chăm bẵm đàn gà, bảo rằng mới chân ướt chân ráo định cư ở Lật Thành chưa được bao lâu, lòng chưa muốn rời đi. Giờ thì hay rồi, Lận Đàn trọng thương còn chưa khỏi hẳn phải về kinh tĩnh dưỡng, nàng liền lẽo đẽo theo đuôi ngay tắp lự.

Sắc mặt Lận Chiêm thoắt cái đã sa sầm. Nhất thời hắn chẳng rõ là nên vui hay nên buồn bực. Vui vì có nàng kề cận, hai người không phải chịu cảnh xa cách, nhưng lại phiền toái vì có thêm cái bóng đèn Lận Đàn lù lù bên cạnh, thật sự quá chướng mắt.

Dẫu vậy, hắn vẫn gật gù, đáp lời: “Đệ sẽ phụ tẩu dọn dẹp.”

Khóe môi Tô Ngọc Dung thoảng nụ cười nhạt: “Đa tạ đệ.”

Đệ đệ và đệ muội đã vào khuê phòng dọn đồ, căn phòng riêng tư của hai người, Lận Đàn đương nhiên không tiện bước vào, bèn đứng loanh quanh giữa gian sảnh chính.

Trên chiếc bàn đặt một chiếc rổ mây đựng kim chỉ nhỏ xíu, bên trong vẫn còn vương vãi món đồ thêu đang dở dang. Chàng tò mò ngó sát lại, hóa ra là một chiếc túi thơm, đường kim mũi chỉ cũng khá tinh xảo. Bên bậu cửa sổ, trong chiếc bát gốm sần sùi có trồng mấy cọng hành xanh mơn mởn. Vài khóm đã bị cắt cụt, nhường chỗ cho những mầm non mới nhú kiên cường đâm lên từ lớp đất.

Những chi tiết vụn vặt này, không hẹn mà cùng âm thầm phác họa nên một bức tranh sinh hoạt đời thường nương tựa lẫn nhau của đệ đệ và đệ muội, một khía cạnh mà chàng hoàn toàn lạ lẫm.

Cặp ghế song sinh, bộ chén dĩa thành đôi. Một người miệt mài đọc sách, một người tỉ mẩn thêu thùa. Những lúc tình chàng ý thiếp, có lẽ đệ đệ sẽ âu yếm nắm lấy tay hiền thê, chỉ dạy cho nàng từng nét chữ vần thơ.

Hình ảnh ấy dễ dàng hiển hiện trong tâm trí Lận Đàn. Đôi uyên ương trẻ tuổi, tình ý mặn nồng, rạng rỡ như ánh mai.

Ánh mắt chàng nán lại trên những vật dụng ấy, trong lòng dâng lên một thứ cảm xúc khó tả. Đối với người đệ đệ cùng chung dòng máu, Lận Đàn luôn ấp ủ vài phần áy náy. Sự thờ ơ của gia tộc đã vô tình uốn nắn nên tính cách méo mó, cực đoan của Lận Chiêm. Giờ đây, khi thấy đệ đệ đã tìm được ý trung nhân nương tựa cả đời, thân làm huynh trưởng, lẽ ra chàng phải cảm thấy vui mừng mới phải.

Thế nhưng, cảm giác ngự trị trong lòng Lận Đàn lúc này lại là một nỗi hụt hẫng và hoang mang khó gọi tên, tựa hồ như bị gạt ra rìa. Dường như giữa hai người bọn họ luôn tồn tại một sự ăn ý hiển nhiên, lại giống như có một bức màn vô hình ngăn cách. Bầu không khí thắm thiết tình yêu ấy, một người làm huynh như chàng chẳng tài nào chen chân vào nổi.

Nghĩ đến đây, chàng lại đâm ra thấy kỳ lạ. Bởi lẽ, thân là huynh trưởng, việc nảy sinh những suy nghĩ như vậy vốn dĩ đã là một sự mạo phạm. Đôi vợ chồng son tình thâm nghĩa trọng, chàng còn thấy hụt hẫng cái nỗi gì, lại còn muốn chen chân vào cái gì nữa?

Lận Đàn trầm ngâm, dời mắt khỏi những vật dụng ấy, kéo dòng suy nghĩ đang đi chệch hướng quay về thực tại.

Chàng lặng lẽ chờ đợi thêm một lát, những người trong nhà cuối cùng cũng dọn dẹp xong xuôi bước ra.

Lận Chiêm khệ nệ bưng một hòm đồ lớn ra xe ngựa. Lận Đàn quay sang nhìn Tô Ngọc Dung, thấy nàng đang xách một tay nải trông có vẻ khá nặng chực bước ra ngoài. Gần như theo bản năng, Lận Đàn tiến tới một bước, ôn tồn hỏi: “Có cần ta giúp một tay không? Để ta xách cho.”

Tô Ngọc Dung nghe tiếng ngẩng đầu lên, khẽ liếc nhìn chàng một cái.

Dẫu đã tịnh dưỡng vài tháng trời sau trọng thương, nhưng so với trước kia, Lận Đàn tiều tụy đi trông thấy, dáng vẻ mong manh tựa như một cơn gió cũng có thể thổi bay.

Tô Ngọc Dung lập tức lắc đầu, giọng vẫn nhỏ nhẹ nhưng ngữ điệu lại vô cùng dứt khoát: “Không cần đâu, ta tự xách được.”

Lận Đàn ngỡ rằng nàng đang cố tình tỏ ra mạnh mẽ. Một cô nương mỏng manh yếu ớt như nàng làm sao kham nổi cái tay nải nặng trĩu ấy. Trong thâm tâm chàng thậm chí còn nhen nhóm vài phần trách móc đệ đệ: Làm chồng kiểu gì vậy chứ, sao lại đùn đẩy việc nặng nhọc này cho Tô cô nương cơ chứ.

Chàng khẽ nhíu mày, tiến thêm một bước định giành lấy: “Đưa cho ta… Ấy.”

Tay chàng chưa kịp chạm vào quai xách, Tô Ngọc Dung đã khẽ lấy sức, nhấc bổng cái tay nải lên nhẹ tênh, dáng điệu thậm chí còn lanh lẹ hơn cả đấng nam nhi, rảo bước đi thẳng ra xe ngựa ngoài cửa: “Thật sự không cần đâu!”

Bóng lưng nàng nhanh nhẹn, đến bờ vai cũng chẳng hề chao đảo lấy một nhịp. Thoắt cái đã xách tay nải ra tận cổng sân, đặt gọn gàng phía sau thùng xe.

Lận Chiêm ăn ý đỡ lấy, sắp xếp đồ đạc ngay ngắn.

Lận Đàn tròn xoe mắt nhìn theo bóng lưng nhẹ tựa lông hồng của nàng, trong lòng không khỏi kinh ngạc.

Tô cô nương sao lại mạnh mẽ đến thế. Cái tay nải kia nhìn to đùng, có khi đến cánh mày râu xách còn thấy chật vật.

Nhớ lại ban nãy mình còn đinh ninh nàng vóc dáng nhỏ bé, ắt hẳn yếu đuối dễ bắt nạt, quả thực là có hơi “trông mặt mà bắt hình dong”.

Lận Đàn đưa tay sờ mũi, bật cười bất đắc dĩ, ánh mắt không chớp dõi theo Tô Ngọc Dung sau khi đặt đồ xuống liền thành thạo nhảy tót lên xe ngựa. Động tác của nàng vô cùng gọn gàng dứt khoát, chẳng hề yểu điệu thục nữ như chàng vẫn hằng tưởng tượng.

Hành lý chẳng mấy chốc đã chất đầy. Ba người không chần chừ thêm nữa, lập tức lên đường, thúc ngựa lao vun vút về hướng kinh thành.

Thời gian vô cùng gấp rút, chưa đầy một tháng nữa là đến kỳ thi Hội, Lận Chiêm buộc phải tức tốc quay về kinh thành chuẩn bị, không được phép chậm trễ dẫu chỉ một khắc.

Nhưng tin tức từ kinh thành truyền đi bao giờ cũng nhanh hơn chân người.

Trong lúc ba người vẫn còn đang lóc cóc trên đường xóc nảy, tin Lận Đàn còn sống đã lan truyền khắp hang cùng ngõ hẻm kinh đô.

Ban đầu, chẳng mấy ai dám tin vào tai mình. Đến khi được vô số nguồn tin xác thực, toàn bộ Lận phủ như vỡ òa trong cơn chấn động.

Lận Tam gia, người vốn vì đợt rét nàng Bân đầu năm mà ốm nằm liệt giường suốt nửa tháng trời, khi nghe được tin hỷ này, lại bất ngờ vùng dậy khỏi giường. Đôi mắt già nua đục ngầu bỗng lóe lên tia sáng quắc thước đáng sợ. Căn bệnh dai dẳng bấy lâu dường như tiêu tán đi quá nửa. Giọng ông ta run rẩy vì kích động: “Việc này… việc này là thật sao? Hi Yến thật sự chưa chết?”

Tên tiểu đồng báo tin hớn hở đáp lời: “Dạ thưa lão gia, ngàn vạn lần là thật! Lính gác ở các trạm kiểm soát dọc đường đều đã đối chiếu thân phận kỹ càng rồi, không thể nào nhầm được đâu ạ!”

Lận Tam gia hít một hơi thật sâu, ánh mắt rực sáng, vỗ tay reo lên: “Tốt… tốt quá rồi!”

Khắp phủ trên dưới, từ chủ nhân đến đám gia nhân, ai nấy đều mang vẻ mặt bàng hoàng đan xen mừng rỡ tột độ. Mới hai hôm trước, Viên Kỳ hãy còn lơ đãng nhắc đến chuyện chuẩn bị lễ lạt tiết Hàn Thực, thoắt cái hôm nay đã hối hả sai người giăng đèn kết hoa, chuẩn bị đón nhị công tử từ cõi chết trở về.

Dưới hành lang, ngoài sân viện, khắp nơi đều thấy cảnh hạ nhân chạy tới chạy lui báo tin cho nhau, mừng rỡ rơi nước mắt. Cả khu phủ đệ vốn chìm trong tĩnh lặng u uất suốt mấy tháng ròng, bỗng chốc lại bừng bừng sức sống náo nhiệt đến cực điểm.

Năm nay Hạ Dao Đình đã có tin hỷ, giờ đang mang thai đôi. Nghe được tin này, nàng ấy vẫn còn bán tín bán nghi, gặng hỏi đi hỏi lại mấy bận: “Ngươi nói thật chứ? Nếu dám ăn đơm nói hớt, coi chừng ta xé xác các ngươi ra.”

Đám hạ nhân báo tin cuống quýt cúi đầu lia lịa, đáp rằng phu nhân đã hạ lệnh dọn dẹp quét tước toàn bộ sân viện rồi. Sau cơn sốc và niềm vui sướng ngắn ngủi, Hạ Dao Đình bỗng sực nhớ đến Tô Ngọc Dung.

Nàng ấy khẽ xoa tay lên phần bụng chưa nhô cao, ánh mắt lấp lánh rạng rỡ. Nếu quả thực như lời họ nói, nhị ca vẫn chưa chết, vậy có phải nhị tẩu cũng sắp được trở về rồi không? Mấy tháng nay, chẳng biết một thân một mình bơ vơ ngoài kia, nàng đã phải nếm trải bao nhiêu cực khổ.

Hạ Dao Đình cứ nghĩ đến Tô Ngọc Dung là lại thấy trong lòng hoan hỉ. Nàng ấy hình dung ra vẻ mặt mừng rỡ khôn xiết của Tô Ngọc Dung khi hay tin Lận Đàn còn sống, không nhịn được thốt lên: “Nhị tẩu mà biết nhị ca chưa chết, chắc chắn sẽ vui sướng đến phát điên lên mất!”

Lời nàng ấy vừa dứt, nụ cười trên môi Viên Kỳ vụt tắt nghỉm, ánh mắt sắc như dao cau quét vọt qua người nàng ấy.

Hạ Dao Đình khựng lại: “Sao… sao vậy, mẫu thân.”

Viên Kỳ cau mày, lạnh lùng lên tiếng: “Cẩn thận cái miệng. Nhị tẩu nào ở đây? Giấy hòa ly rành rành giấy trắng mực đen, ả ta từ lâu đã chẳng còn là dâu con nhà họ Lận. Một kẻ người dưng nước lã, đến cả cái tên trong gia phả còn chưa được ghi vào, lấy tư cách gì mà xứng đáng làm dâu nhà họ Lận?”

Hạ Dao Đình bị sự nghiêm nghị bất thình lình của bà ta làm cho hoảng hồn, cứng họng đứng chôn chân tại chỗ.

Viên Kỳ hít một hơi thật sâu, đưa mắt đảo một vòng quanh để chắc chắn không có kẻ tọc mạch nào lảng vảng, bấy giờ mới hạ thấp giọng. Bà ta gằn từng chữ một, rành rọt dặn dò nhũ mẫu tâm phúc và đám hạ nhân: “Tất cả dỏng tai lên mà nghe cho kỹ! Trong thư viết rành rành, Hi Yến bị thương nặng, vùng đầu chấn thương tụ máu chưa tan, dẫn đến việc quên sạch mọi chuyện xảy ra trong mấy năm gần đây.”

Bà ta cố tình gằn giọng ở mấy chữ cuối, ánh mắt lạnh lẽo quét qua đám người đang đứng trước mặt.

“Đợi đến khi nó hồi phủ, toàn bộ người trong phủ liệu mà câm cái miệng lại cho ta, cấm tuyệt đối bất kỳ kẻ nào hé răng nhắc đến một chữ về con ả họ Tô trước mặt nó! Mọi thứ liên quan đến ả ta, tất thảy đều phải mục rữa trong bụng!”



Loading...