Hạ Trúc

Chương 3


Chương trước Chương tiếp

Hai ngày sau, Lý Cẩn mời Tộc trưởng và các bậc trưởng bối trong họ Lý đến từ đường để bàn việc cầu thân. Hắn muốn nhân cơ hội này thông báo việc lập Bình thê, đồng thời công khai gán cho ta tội phạm phải Thất xuất, không thể sinh con nối dõi để hạ thấp vị thế của ta trong gia đình.

Từ đường nhà họ Lý nghi ngút khói hương. Các vị phụ lão ngồi chễm chệ trên ghế, Lý Cẩn đứng ở giữa, mặt mày hớn hở chuẩn bị dâng trà.

Đúng lúc Lý Cẩn cất lời: “Thưa Tộc trưởng và các vị trưởng bối, những năm qua A Trúc làm một người vợ tốt, nhưng…”

Rầm!

Ta đẩy văng cánh cửa từ đường bước vào. Toàn bộ người trong từ đường khựng lại, dồn ánh mắt ngạc nhiên về phía ta. Lý Cẩn tái mặt, quát lớn:

“A Trúc! Phụ nữ ai cho phép vào từ đường? Mau ra ngoài!”

“Lý Cẩn, ngươi câm miệng!” Giọng ta vang lên đanh thép.

Ta bước đến giữa gian chính, đứng trước mặt Tộc trưởng nhà họ Lý. Ta rút ra một tờ giấy đã ngả màu vàng ố từ trong ngực áo. Đó là bản sao của tờ khế ước “Cầm cố vợ” năm xưa mà ta đã âm thầm giấu lại khi ở nhà họ Vương.

“Tộc trưởng, các vị trưởng bối.”

Ta giơ cao tờ giấy, bình thản lên tiếng: “Hôm nay Lý Cẩn muốn cầu thân cô nương nhà khác, chê ta thất tiết, bẩn thỉu. Nhưng các vị hãy nhìn cho kỹ tờ khế ước này.”

Tộc trưởng nhíu mày, nhận lấy tờ giấy. Khi ánh mắt lão lướt qua những dòng chữ ghi rõ việc Lý Cẩn cầm cố vợ ba năm sinh con để đổi lấy lương thực và tiền bạc dựng nhà, cùng với dấu ấn ngón tay cái của Lý Cẩn, mặt lão lập tức biến sắc.

“Lý Cẩn ta vì túng thiếu, nguyện giao vợ hiền là A Trúc cho Vương viên ngoại trong ba năm để sinh con nối dõi. Toàn bộ tiền thù lao và lương thực trả hàng tháng đều giao cho Lý Cẩn…”

Mọi người có mặt ở từ đường đều chết lặng. Một bà lão run rẩy chỉ tay vào mặt Lý Cẩn:

“Trời ơi… Lý Cẩn! Bấy lâu nay ngươi rêu rao với dân làng rằng A Trúc bị bệnh lạ khó chữa, ngươi phải đem hết tài sản, còn xin bán mình làm gia nhân cho nhà họ Vương để lấy tiền chữa bệnh cho vợ. Nhưng Vương phu nhân thấy A Trúc ngoan ngoãn nên nói sau khi tìm người chữa bệnh xong sẽ nhận A Trúc vào làm người hầu hạ riêng trong phủ ba năm để trừ nợ. Ngươi nói ngươi kiếm tiền đến trầy da tróc vảy để tích góp tiền dựng nhà chờ ngày đón vợ về… Hóa ra tiền dựng nhà ngói, tiền ngươi ăn ngon mặc đẹp… đều là tiền mày bán vợ làm máy đẻ cho nhà người ta sao?!”

Thì ra trong ba năm ta ở nhà họ Vương, Lý Cẩn ở làng đóng vai một người chồng si tình, đáng thương. Ngày ngày ăn chay cầu nguyện cho vợ, vất vả làm lụng sớm hôm, tích góp từng đồng.

Mỗi khi nhận được tiền từ nhà họ, hắn đều nói dối dân làng là tiền do hắn chép sách và làm thuê, vất vả lắm mới tích góp được, cộng với sự thương hại của Vương viên ngoại ban cho một gã học trò nghèo hiếu học.

Khi bắt đầu dựng căn nhà ngói ba gian, hắn loan tin với dân làng rằng bản thân dốc hết sức làm lụng mấy năm trời, không dám ăn không dám tiêu, dựng sẵn căn nhà ngói khang trang để chờ ngày đón người vợ số khổ từ nhà họ Vương trở về hưởng phúc.

Màn kịch người chồng nghĩa khí mà Lý Cẩn công phu dựng lên suốt ba năm qua đã hoàn toàn vỡ vụn.

“Lý Cẩn! Cái này… cái này là thật sao?!” Tộc trưởng đập mạnh tay xuống bàn.

Các vị phụ lão bắt đầu xầm xì bàn tán. Những ánh mắt nhìn Lý Cẩn dần chuyển thành sự khinh bỉ, ghê tởm.

“Trời ơi! Hóa ra căn nhà ngói ba gian là do cầm cố vợ mà có à?”

“Thế mà bấy lâu nay hắn vỗ ngực ta đây là kẻ có tình có nghĩa! Thực sự đê tiện quá mức!”

Mặt Lý Cẩn cắt không còn một giọt máu. Hắn lao đến định giật tờ giấy, nhưng ta đã nhanh tay thu lại. Hắn chỉ vào mặt ta, giọng điệu run rẩy vì giận dữ và xấu hổ:

“Cô… cô là đồ đàn bà độc ác! Cô muốn phá hoại danh dự của ta ư?”

“Danh dự à?” Ta nhếch môi cười cay đắng. 

“Ngươi làm gì có danh dự để mà phá huỷ? Căn nhà ngươi đang ở, từng viên gạch, từng cây cột đều đổi lấy từ xương máu của ta. Ngươi dùng sự hy sinh của ta để làm bàn đạp leo lên, rồi quay đầu chê bai ta bẩn thỉu. Ngươi là gã đàn ông đê tiện nhất trên đời này rồi đấy.”

Ta rút tiếp từ trong túi ra một tờ giấy khác đã viết sẵn. Là thư ly hôn.

“Lý Cẩn. Căn nhà được dựng lên từ số tiền đó cùng tiền bạc mà ngươi đã nhận được từ việc cầm cố chính vợ mình, ta không cần dù chỉ một đồng. Ta cảm thấy rất ghê tởm. Hôm nay, trước mặt Tộc trưởng và tổ tiên nhà họ Lý, ta yêu cầu ngươi ký vào tờ thư ly hôn này. Từ nay về sau, ta và ngươi hoàn toàn cắt đứt, đường ai nấy đi, sống chết không gặp lại.”

Lý Cẩn nghiến răng, mắt đỏ ngầu vì nhục nhã: “Ta không ký! Cô là vợ ta, muốn ta giải thoát cho cô sao? Đừng có mơ!”

“Ngươi không ký?” 

Ta nhìn thẳng vào mắt hắn, gằn từng tiếng: “Nếu ngươi không ký, ngay ngày mai ta sẽ đem tờ khế ước Cầm cố vợ này lên quan huyện, tố cáo ngươi tội bán vợ, trái với pháp luật! Để xem cái danh văn sĩ của ngươi và cả hôn sự với cô nương sạch sẽ của ngươi có còn thành được hay không!”

Tộc trưởng nhà họ Lý thở một hơi hơi. Lão nhìn Lý Cẩn bằng ánh mắt thất vọng tột cùng, lập tức phất tay:

“Lý Cẩn… Ký đi. Đừng làm xấu mặt nhà họ Lý thêm nữa!”

Dưới áp lực của Tộc trưởng và những lời chửi rủa của nhóm người, Lý Cẩn run rẩy cầm lấy cây bút. Hắn nghiến răng đặt bút ký tên và ấn ngón tay điểm chỉ vào tờ thư ly hôn.

Khi tờ giấy ly hôn có hiệu lực nằm gọn trong tay, ta cảm thấy một luồng không khí sảng khoái tràn ngập trong lồng ngực. Ta quay lưng bước đi, không một lần ngoảnh đầu nhìn lại gã đàn ông đang quỳ gục dưới sàn từ đường.

Chiều thu hôm ấy, một trận cuồng phong đột ngột quét qua thôn làng. Gió thổi tung những lớp lá khô, mây đen cuồn cuộn kéo đến phủ kín bầu trời. Ta trở về căn nhà ngói, không thu dọn bất cứ đồ đạc đắt tiền nào mà Lý Cẩn đã mua. Ta chỉ thay ra chiếc áo khoác ngoài, mặc lại chiếc áo vải năm xưa. Hành trang ta mang theo chỉ là một tay nải quần áo cũ rách và đôi bàn tay đầy vết chai sạn.

Bước ra khỏi cổng làng, gió cuồng phong thổi tung mái tóc ta. Dân làng đứng hai bên đường xầm xì, chỉ trỏ:

“Kìa, đúng là đồ không biết điều! Lý Cẩn chờ đợi nàng ta ba năm, ở nhà tằn tiện chắt bóp mới xây được một căn nhà. Vậy mà trở về chưa được bao lâu đã bỏ đi. Chắc lại tìm được mối tốt hơn ở trên trấn rồi.”

“Ài… số Lý Cẩn cũng thật là xui xẻo…”

Những lời mắng nhiếc cùng khinh thường đuổi theo sau lưng ta như những viên đá ném vào hư không. Nhưng ta không thèm quay đầu lại, cũng chẳng buồn giải thích.

Nước mắt ta đã chảy cạn vào những đêm đông nằm trên chiếc giường gỗ Vương phủ. Giờ đây, cõi lòng ta hoàn toàn phẳng lặng. Ta đã cắt đứt hoàn toàn với quá khứ, cắt đứt với gã phu quân tráo trở, cắt đứt với đứa con không thể nhận, và cắt đứt với làng quê một mực muốn dìm chết phụ nữ này.

Ta bước đi trong giông bão, hướng về phía con đường lớn dẫn ra bến sông xa lạ. Dù phía trước là hố sâu hay vực thẳm, ta cũng sẽ tự bước đi bằng chính đôi chân của mình.

Cảng Nam Hải đón ta bằng những cơn gió biển mặn mòi quyện chặt với mùi cá tanh, mùi dầu máy xưởng cưa và mùi mồ hôi chua nồng của hàng ngàn phu vác. Đây là nơi sầm uất nhất phương Nam, dòng người ngược xuôi không lúc nào ngơi nghỉ, kẻ giàu sang tiêu tiền như rác, người nghèo khó bán mạng đổi lấy miếng ăn.

Nhưng sự sầm uất ấy lại tàn nhẫn đến tột cùng đối với một người phụ nữ đơn độc, thân thể tàn tạ, lại mang lai lịch không rõ ràng như ta.

Rời khỏi làng quê, bước xuống bến thuyền Nam Hải, trong túi ta chỉ còn vài đồng tiền lẻ chắt bóp từ việc bán hai chiếc khuyên tai bạc cũ. Đó là tài sản cuối cùng của mẹ ta để lại. Ta không có thân thích, không người bảo lãnh. Ở một thành phố cảng đầy phức tạp này, người không có lai lịch rõ ràng chỉ có hai con đường, hoặc bị lừa bán vào các kỹ viện dưới bến, hoặc là làm nô bộc vĩnh viễn không thấy ánh mặt trời.

Mấy ngày đầu, ta cầm vài đồng tiền lẻ đi gõ cửa khắp các xưởng dệt, tiệm cơm, xưởng đóng tàu. Ta chấp nhận xin làm bất cứ việc gì, từ dọn dẹp nhà vệ sinh, rửa bát đĩa cho đến gánh gạch. Nhưng thấy người ta gầy guộc như cành cây khô, hai mắt thâm quầng vì kiệt sức, lại không có người trong thành phố đứng ra bảo đảm gia thế, những gã quản sự đều thẳng tay hất ta ra khỏi cửa như hất đồ vật bẩn thỉu.

Nơi trú chân duy nhất mà ta tìm được là khoảng không gian chật hẹp, hôi hám nằm sâu dưới gầm cầu thang gỗ của một xưởng nhuộm cũ đã bỏ hoang một nửa bên bến sông.

Gầm cầu thang ấy vừa thấp vừa hẹp, quanh năm ẩm ướt, không có ánh mặt trời. Mùi hóa chất nhuộm vải chua nồng xộc lên hòa lẫn với mùi phân chuột và mùi rác rưởi mục nát dưới lòng sông. Chiếc giường của ta chỉ là hai tấm bao tải rách rưới trải tạm lên nền đất nhầy nhụa. Và để có được ổ chuột ấy, mỗi đêm ta phải trả cho gã gác xưởng hai đồng tiền lẻ tích góp được từ việc gom nhặt phế liệu hay nhặt nhạnh những hạt cơm thừa ở các cửa tiệm bình dân.

Mùa đông Nam Hải lạnh cắt da cắt thịt. Sương muối từ biển thổi vào phủ một lớp băng mỏng trắng xóa lên những con thuyền đậu dọc bờ sông.

Để sống sót qua cơn đói cào xé ruột gan, ta nhận giặt áo thuê cho đám phu vác bến xe, ở xưởng than và thủy thủ tàu buôn. Đống quần áo thô dày của họ bám chặt dầu mỡ, than đen, mồ hôi dính kết thành từng vệt cứng như đá được chất cao như những ngọn núi nhỏ bên bờ sông.

Mỗi buổi sáng sớm, ta ra bến sông khi mặt trời còn chưa ló rạng. Ta cầm một viên gạch lớn, nén đau đập vỡ lớp băng mỏng trên mặt nước rồi thò đôi bàn tay xuống làn nước sông lạnh rát như kim châm.

“Rẹt… rẹt…”

Ta cầm gậy gỗ trên tay, dùng hết sức lực đập lên từng chiếc áo. Nước lạnh ngắt làm hai bàn tay ta tê dại, mất hết cảm giác chỉ sau vài phút. Đến ngày thứ ba, làn da trên bàn tay ta bắt đầu nứt nẻ thành những rãnh sâu tím thẫm. Máu tươi rỉ ra từ các kẽ tay, hòa lẫn vào làn nước sông lạnh ngắt và lớp bọt xà phòng bẩn thỉu.

Mỗi lần gập tay vắt chiếc áo thô nặng trịch thấm đẫm nước, những vết nứt trên da lại bị xé rách. Cơn đau nhức khiến ta nhiều lần phải cắn chặt môi đến bật máu. Mà những cơn đau căng tức hai bên b** ng*c dần chuyển thành những cơn đau âm ỉ, bóp nghẹt lấy trái tim ta.

Đêm đêm co quắp dưới gầm cầu thang bẩn thỉu, lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rào vào mạn thuyền, hình ảnh đứa trẻ sơ sinh bị bế đi năm xưa lại hiện về rõ mồn một. Lồng ngực ta nhức nhối. Mỗi lần nhìn thấy những người mẹ bế con đi qua bến sông, nhìn đứa trẻ mũm mĩm được quấn trong chăn bông ấm áp, tim ta lại nhói lên như có ngàn mũi kim đâm.

Ta nghiến chặt răng, nuốt ngược mọi giọt nước mắt và sự cay đắng vào trong. Cầm chày gỗ đập mạnh xuống lớp vải thô, tự giằng xé với chính mình: A Trúc, ngươi phải sống. Sau những năm tháng bị người ta nắm toàn quyền quyết định sống chết, khó khăn lắm mới tìm được bầu không khí có thể hít thở. Ngươi không thể gục ngã, chỉ vì chính ngươi thôi. Lần này, hãy vì chính ngươi mà sống.

……….

Sau ba tháng giặt đồ thuê, ta tích góp được đúng ba trăm đồng. Số tiền này quá nhỏ bé đối với một thương nhân, nhưng đối với ta lúc đó, nó là toàn bộ sinh mạng, là viên gạch đầu tiên để ta leo ra khỏi hố đen của số phận.

Ta biết, nếu cứ tiếp tục giặt đồ thuê, đôi tay ta sẽ để lại di chứng khi mùa đông kết thúc, và ta sẽ mãi mãi chôn chân dưới gầm cầu thang này. Ta phải tìm hướng đi khác.

Lúc ấy ta dùng toàn bộ ba trăm đồng ra chợ đầu mối vào lúc chiều tà. Đó là thời điểm người ta dọn hàng để mua lại vài cân đường với giá rẻ và mấy thúng trái cây vừa chua vừa chát mà các chủ buôn vứt bỏ bên vệ đường.

Ban đêm, dưới ánh đèn dầu chập chờn dưới gầm cầu thang xưởng nhuộm, ta tỉ mẩn rửa sạch từng quả quất, ngâm nước muối rồi cẩn thận vắt bớt nước chua. Sau đó mượn chiếc nồi đất của bà lão b*n n**c chè bên đường, bắc lên bếp than hồng, kiên nhẫn sên quất với đường suốt nhiều canh giờ.

Bằng sự khéo léo và nhẫn nại, ta đã tạo ra món mứt quất dẻo thơm. Mứt của ta có màu vàng óng như mật, vị ngọt thanh hòa quyện với vị cay nhẹ của vỏ quất, vừa giúp nhóm người khuân vác ở bến và thủy thủ giữ ấm cổ họng trong những ngày lạnh giá.

Không dừng lại ở đó, ta hiểu rằng nếu chỉ bán mứt như bao người khác, ta sẽ không bao giờ cạnh tranh nổi. Những lúc rảnh rỗi vào ban đêm, ta thường tìm đến các xưởng may lớn trong thành phố, nhặt những miếng vải lụa thừa bị người ta bỏ đi.

Ta nương theo ánh đèn dầu leo lét, bắt đầu tỉ mẩn cầm lên chiếc kim thêu nhỏ. Bắt đầu thêu những họa tiết hoa sen, hoa mẫu đơn hay những chú chim én mềm mại lên từng miếng vải vụn, biến nó thành những chiếc túi thơm nhỏ nhắn, hoặc cũng có thể dùng để đựng mứt.

Sáng hôm sau, ta gánh hai thúng mứt ra bến tàu. Thực tế gian nan hơn ta tưởng gấp ngàn lần. Sự trỗi dậy của một kẻ trắng tay luôn chọc tức những kẻ đã cắm rễ lâu năm ở bến tàu. Đám người bán hàng lâu năm ghen ghét vì mứt của ta thơm ngon, túi đựng lại đẹp mắt khiến khách mua đông hơn. Họ xúi giục đám lưu manh bến cảng đến đập phá gánh hàng của ta, hất văng những hũ mứt dẻo xuống bùn lầy. Mấy gã quan lại tuần bến cũng liên tục hạch sách, ám chỉ thu tiền một cách vô lý.

Có những ngày, gánh mứt của ta bị đập vỡ tan tành, dính đầy bùn đất, toàn bộ vốn liếng tích góp đều tan thành mây khói. Ta đứng nhìn gánh hàng vỡ vụn ngay trước mắt, hai tay cũng run rẩy vì uất hận. Nhưng A Trúc của hiện tại đã không còn là người phụ nữ yếu đuối quỳ lạy khóc lóc trước cổng nhà họ Vương hay nhẫn nhịn chịu đựng sự ghê tởm của Lý Cẩn nữa.

Mỗi lần bị đập phá, ta đều im lặng quỳ xuống bùn lội, nhặt từng quả quất còn sạch bỏ vào trong thúng. Đêm về, ta lại cặm cụi nhóm lửa, tìm kiếm nhiều công việc khác để có tiền làm lại từ đầu. Ta muốn dùng sự tử tế, chất lượng của sản phẩm và chữ Tín để chinh phục khách hàng.

Ta bán mứt đúng giá, không cân thiếu, túi thơm thêu tay tinh xảo luôn được tặng kèm. Dần dần, đám phu khuân vác, các thương nhân đi tàu ngược xuôi đều quen mặt và chỉ tìm đến gánh mứt có túi thơm của Hạ Trúc. Tiếng lành đồn xa, gánh mứt nhỏ của ta bắt đầu có những đơn đặt hàng lớn hơn từ các tàu buôn đường dài.

……….

Hai năm sau, gánh mứt dạo của ta đã phát triển thành một sạp hàng cố định bên bến cảng. Ta không chỉ bán mứt quất mà bắt đầu bán thêm các loại mứt hoa quả khác và nhận thêu gia công các loại túi gấm, khăn tay cho người lao động và cả những phu nhân trong các gia đình giàu có.

Tuy nhiên, bến cảng Nam Hải không phải là nơi yên bình. Giới buôn gấm vóc và nông sản nơi đây bị chi phối bởi Hội buôn Nghĩa Bang – một tập hợp những thương nhân lâu năm, hung hãn và cực kỳ độc quyền.

Khi thấy sạp hàng của ta bắt đầu lấn sân sang việc cung cấp khăn gấm thêu tay cho các tàu buôn xuất khẩu, bang chủ Nghĩa Bang là Triệu Bá nổi tiếng tàn nhẫn bắt đầu để mắt tới ta.

Hắn không ra mặt trực tiếp mà dùng chiêu trò bẩn thỉu. Hắn thâu tóm toàn bộ nguồn chỉ thêu và vải gấm ở các xưởng buôn trong thành phố, lệnh cho họ tuyệt đối không được bán cho ta dù chỉ một thước vải. Cùng lúc đó, hắn cho người rêu rao tin đồn rằng mứt của ta dùng loại đường kém chất lượng, túi gấm thêu bằng loại chỉ gây ngứa ngáy cho người dùng.

Chỉ trong vòng một tháng, các đơn đặt hàng của ta liên tục bị hủy. Sạp hàng cũng đứng trước nguy cơ khánh kiệt, số tiền tích góp suốt hai năm qua có nguy cơ tan thành mây khói.

Đêm đó, ta ngồi trước sạp hàng vắng ngắt, nhìn những thước vải chỉ thêu cuối cùng còn sót lại. Nhóm thợ phụ là những người phụ nữ nghèo khổ được ta thuê về làm cùng đã bật khóc nức nở vì lo sợ lại phải quay trở về cảnh đời nghèo khó, sống trong nhục nhã như trước.

Ta nắm chặt tay, ánh mắt lóe lên sự sắc lạnh. Ngay đêm đó, ta khoác áo bông thô, một mình đón chuyến thuyền đêm đi ngược dòng lên phía Bắc, tìm đến vùng núi có những làng nghề dệt thổ cẩm và nhuộm vải bằng vỏ cây tự nhiên của người dân tộc thiểu số.

Tại đây, ta dùng sự chân thành và kỹ thuật thêu hoa tinh xảo của mình để thuyết phục bọn họ. Ta ký hợp đồng với toàn bộ sản phẩm vải dệt tay thô nhưng độc đáo của họ với giá cao hơn thị trường, đồng thời học thêm kỹ thuật nhuộm màu tự nhiên không giống với bất kỳ tiệm vải nào ở Nam Hải.

Một tháng sau, ta trở về Nam Hải. Khi Triệu Bá còn đang đắc thắng tưởng rằng ta đã cúi đầu chịu chết, thì trên bến cảng bất ngờ xuất hiện loại gấm thổ cẩm nhuộm tự nhiên độc nhất vô nhị do sạp hàng Hạ Trúc phân phối. Loại gấm này có hoa văn lạ mắt, màu sắc tự nhiên không phai, hương thơm thảo mộc dễ chịu, lập tức tạo nên một cơn sốt khủng khiếp trong giới thương nhân nước ngoài và các phu nhân quyền quý.

Triệu Bá nghiến răng nghiến lợi, giận dữ đập vỡ tách trà đang uống dở. Hắn không những không chèn ép được ta, mà còn vô tình đẩy ta bước lên một tầm cao mới, trở thành nhà cung cấp gấm độc quyền dòng sản phẩm cao cấp.

……….

Năm thứ tư ở Nam Hải. Bằng số tiền lời khổng lồ từ dòng gấm độc quyền và sự tích góp không ngừng nghỉ, ta quyết định thực hiện bước nhảy vọt lớn nhất cuộc đời mình. Ta thuê lại một cửa hàng hai lầu rộng lớn, đắc địa nhất ngay ngã tư bến cảng Nam Hải.

Ngày khai trương, tấm biển hiệu bốn chữ bằng gỗ mạ vàng được treo lên vô cùng long trọng: Tiệm Gấm Thanh Y. Với mong muốn chữa lành những tổn thương, gột rửa những đớn đau cùng tủi nhục trong quá khứ. 

Tiệm gấm của ta không giống bất kỳ tiệm gấm nào khác ở thành phố cảng sầm uất này. Ngay từ ngày đầu mở cửa, ta đã đưa ra một quy định kỳ lạ làm chấn động toàn bộ giới thương nhân, đó là chỉ tuyển dụng phụ nữ sa cơ. Những người phụ nữ bị bỏ rơi, những cô nương bị gia đình bán vào thanh lâu trốn ra ngoài cố gắng tìm đường sống, những góa phụ nghèo khổ bị dòng họ xua đuổi, hay những người mẹ đơn thân bị xã hội ruồng bỏ… tất cả khi nghe tin đều tìm đến tiệm gấm Thanh Y.

Ta dang rộng vòng tay đón nhận họ, dựng cho họ một khu nhà ở sạch sẽ, ấm áp ở phía sau tiệm, bao ăn một ngày ba bữa cơm nóng, chữa trị bệnh tật cho họ. Và quan trọng nhất là ta đích thân mở lớp truyền dạy cho họ toàn bộ kỹ nghệ thêu hoa trên gấm, bí quyết nhuộm màu và kỹ năng buôn bán.

Nhiều đêm, nhìn những người phụ nữ ấy co ro nghẹn ngào vì nhớ con, vì tủi nhục bị chà đạp trong quá khứ, ta chỉ có thể nắm lấy đôi bàn tay run rẩy, chằng chịt vết sẹo của họ, nhẹ nhàng lên tiếng:

“Đừng khóc. Nước mắt của phụ nữ chúng ta không đổi lại được sự thương cảm của đàn ông hay sự công bằng của xã hội.”

“Muốn bọn họ không coi chúng ta là món đồ có thể cầm cố, mặc sức hắt hủi hay bán tống bán tháo, vậy thì trước hết phải tự biết yêu lấy chính mình, mà đôi tay này cũng phải tự làm ra tiền. Tự do, sự tôn nghiêm và tương lai của chúng ta phải do chính chúng ta nắm giữ trong tay mới được.”

“Sinh ra cùng là con người. Vì sao chúng ta không yêu lấy bản thân mình nhiều hơn?”

Dưới sự dẫn dắt của ta và sự thấu hiểu lẫn nhau của mọi người, tiệm gấm Thanh Y không chỉ là một cửa hàng buôn bán, mà đã trở thành một thế giới thu nhỏ của những người phụ nữ kiên cường.

Những mảnh gấm thêu tay tinh xảo mang hoa văn sống động cùng những hộp mứt gấm sang trọng của tiệm trở thành mặt hàng thượng hạng được các phu nhân quyền quý trong Kinh thành và các thuyền thương nhân từ phương Tây săn đón với giá cực kỳ đắt đỏ.

Từ một người vợ bị cầm cố rách rưới tủi nhục, đơn độc rời khỏi làng trong trận cuồng phong năm xưa, giờ đây ta đã trở thành Hạ chưởng quỹ, một nữ thương nhân nức tiếng vùng bến cảng Nam Hải.

Người ta kính trọng ta không chỉ vì sự giàu có, mà vì bản lĩnh sắc bén trên thương trường, sự tỉnh táo trước mọi cạm bẫy và tấm lòng bao dung đối với những kiếp người bất hạnh.

Thế nhưng, khi vừa mới chạm tới đỉnh cao sự nghiệp thì những bóng đen từ quá khứ và những âm mưu mới ở Nam Hải lại bắt đầu rục rịch kéo đến.



Loading...