Năm thứ năm tại Nam Hải, danh tiếng của tiệm gấm Thanh Y không chỉ dừng lại ở bến cảng. Vải gấm thêu tay của ta đã theo những thuyền buôn vượt biển. Sự bành trướng của Hạ chưởng quầy ta như một cái gai găm sâu vào mắt Triệu Bá bang chủ Nghĩa Bang vốn quen thói xưng hùng xưng bá. Hắn thua đau một lần nhưng quyết không buông tha. Triệu Bá thừa biết nếu dùng thủ đoạn thương trường đường đường chính chính, hắn sẽ không bao giờ cản nổi tiệm gấm Thanh Y. Hắn chuyển sang nước cờ hiểm độc khác, tìm kiếm góc khuất quá khứ để huỷ hoại danh dự của ta.
Hắn cử đám tay chân thân tín lặn lội về tận vùng quê nghèo năm xưa để điều tra lai lịch của vị Hạ chưởng quầy. Và quả nhiên, gã đã mò ra được bí mật mà ta tưởng chừng đã chôn sâu dưới lòng sông lạnh.
Hạ chưởng quầy nổi danh lẫy lừng của Nam Hải thực chất chỉ là một ả gái quê từng bị chồng cầm cố làm “máy đẻ” cho gia đình giàu có, một kẻ bị dòng họ Lý xua đuổi, bị coi là thứ phụ nữ không sạch sẽ.
Triệu Bá đắc thắng. Hắn không chỉ nắm được yếu điểm này, mà còn đánh hơi thấy mùi tiền từ gã chồng cũ Lý Cẩn của ta.
Lúc này ở quê cũ, Lý Cẩn đã thân bại danh liệt. Sau khi bị ta vạch mặt ở từ đường, hắn cố sống cố chết muốn làm ăn buôn bán nhưng bị lừa sạch vốn liếng. Căn nhà ngói ba gian là biểu tượng rõ ràng nhất cho sự tráo trở của hắn cũng bị người ta dùng để xiết nợ. Hắn trở thành kẻ thiếu nợ đây đó, bị chủ nợ đánh gãy một bên chân, phải sống chui rúc trong một căn chòi ven sông.
Khi tay chân của Triệu Bá tìm đến và rỉ tai rằng: Người vợ bị ngươi cầm cố năm xưa giờ là Hạ phu nhân giàu có nhất vùng Nam Hải rồi kìa, tiền bạc chất cao như núi. Lúc ấy mắt Lý Cẩn sáng quắc lên như mắt của một con sói đói nhìn thấy miếng mồi ngon.
Sự tham lam, đê tiện và tính tự cao tự đại của gã văn sĩ lập tức trỗi dậy. Hắn nghĩ rất đơn giản. Dù sao nàng cũng là vợ của hắn. Tiền của nàng làm ra đương nhiên phải là của hắn rồi. Có gì mà phải bàn cãi.
Được Triệu Bá bỏ tiền ra bao bao ăn ở, mặc cho bộ áo mới để che đi dáng vẻ nhếch nhác, Lý Cẩn được đưa thẳng tới cảng Nam Hải.
Một cạm bẫy bẩn thỉu và tàn nhẫn được Triệu Bá giăng ra như thế. Hắn bỏ tiền thuê hàng chục gã bồi bút, thầy đồ tha hóa trong thành phố và đám lưu manh bến sông để chuẩn bị cho một màn vạch mặt Hạ chưởng quầy trước toàn thể giới thương gia.
Mùa thu năm đó, Hội nghị Thương gia Nam Hải được tổ chức vô cùng hoành tráng tại Tửu lâu Giang Nam quy tụ toàn bộ quan lại, thương nhân giàu có và phu nhân quyền quý trong vùng. Ta với tư cách là chủ tiệm gấm Thanh Y được mời ngồi ở hàng ghế danh dự phía trên.
Ta mặc chiếc váy màu lam sẫm thêu hoa sen bạc, tóc búi cao điểm trâm ngọc, thần thái điềm tĩnh, uy nghiêm. Khi tiệc mừng đang ở lúc vui vẻ nhất, Triệu Bá bất ngờ đứng dậy, đập mạnh chén rượu xuống bàn:
“Chờ đã! Hôm nay nhân lúc đông đủ quan khách và giới thương nhân, ta có một chuyện bất bình muốn công khai!”
“Thương trường Nam Hải chúng ta vốn đề cao chữ ‘Tín’ và ‘Đức’. Vậy mà có kẻ tráo trở, mang thân xác dơ bẩn, bất kính với dòng họ, bất nghĩa với trượng phu lại đang ngồi ở đây giả làm bậc trinh phụ hiền thảo!”
Toàn bộ người trong sảnh tiệc đều chết lặng. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía Triệu Bá rồi lại quay sang nhìn ta. Ta vẫn thản nhiên nhấp một ngụm trà, ánh mắt không hề dao động.
Triệu Bá vỗ tay ba tiếng. Lý Cẩn bước ra từ phía sau bức màn che. Dù khoác trên mình tấm áo mới, nhưng dáng đi khập khiễng vì gãy chân, gương mặt gầy guộc u ám, ánh mắt lén lút gian manh của hắn không sao che giấu nổi.
Lý Cẩn nhìn thấy ta ngồi trên ghế cao, gấm vóc lụa là, quanh người tỏa ra khí chất cao quý thì ngơ ngác mất vài giây. Nhưng rồi sự tham lam lập tức chiếm lấy tâm trí hắn. Hắn lao về phía bàn của ta, gào khóc thảm thiết:
“Trúc Nhi! Trúc Nhi! Mấy năm nay ta tìm nàng khổ sở biết bao! Nàng là vợ của ta. Năm xưa nhà ta gặp hạn hán, nàng bỏ trốn theo người khác, bỏ mặc ta một mình gánh vác nợ nần. Bây giờ nàng giàu có rồi, lại xưng họ Hạ, là muốn chối bỏ trượng phu nghèo khó này sao?!”
Tiếng ồn ào bùng lên như ong vỡ tổ. Các quan khách bắt đầu xầm xì:
“Trời ơi, Hạ chưởng quầy danh tiếng lẫy lừng lại là kẻ bỏ trượng phu bỏ quê nhà đi theo người khác thật sao?”
“Thật bất hạnh cho người này, vợ giàu sang rồi lại ngoảnh mặt làm ngơ!”
Triệu Bá đắc thắng bước lên, giơ ra một tờ giấy cũ đã ố vàng:
“Chư vị, đây chính là hôn thư của hai người họ! Tôn xưng Hạ chưởng quầy đây thực chất là Hạ Trúc. Một kẻ bất trung bất kính với phu quân, giấu bặt lai lịch để lừa dối giới thương nhân Nam Hải! Một kẻ như vậy có xứng đáng làm chủ tiệm gấm Thanh Y không đây? Có xứng đáng giao thương với các vị hay không?”
Những tiếng xì xào càng lúc càng lớn. Đám bồi bút được Triệu Bá thuê bắt đầu lớn tiếng nhạo báng, hùa theo ép ta phải rời khỏi hội nghị, đòi tẩy chay tiệm gấm Thanh Y.
Lý Cẩn thấy đám đông ủng hộ mình thì càng thêm đắc chí. Hắn quỳ sụp xuống, giả vờ lau nước mắt nhưng khóe miệng ranh ma lại nhếch lên:
“A Trúc, chỉ cần nàng biết hối lỗi, giao lại toàn bộ tiệm gấm Thanh Y cho ta quản lý, theo ta về quê thắp hương sám hối với dòng họ, ta sẽ bao dung tha thứ cho những lỗi lầm của nàng…”
Trong suốt màn kịch đó, ta không hề ngắt lời, cũng không hề hoảng loạn. Ta bình thản đặt tách trà xuống đĩa sứ, tiếng “keng” trong trẻo vang lên giữa sảnh tiệc đang ồn ào.
Ta đứng dậy. Vạt áo gấm lướt nhẹ trên sàn gỗ. Thần thái của ta không phải là của một nạn nhân bị bắt bạt, mà là của một vị nữ vương đang nhìn đám hề nhảy múa. Ta nhìn Lý Cẩn, khóe môi nở nụ cười lạnh đến thấu xương:
“Lý Cẩn, ngươi nói ta bỏ trốn theo người đàn ông khác đúng không? Ngươi nói ta bất nghĩa với ngươi à?”
Ta quay sang phía quan khách và quan lại Nam Hải, cất giọng đanh thép, vang dội khắp tửu lâu:
“Nếu ta thực sự là kẻ bất nghĩa, sao ngươi không kể cho toàn bộ quan khách ở đây nghe một chút chuyện xưa. Rằng toàn bộ tiền dựng căn nhà ngói ba gian của ngươi ở quê, tiền cho ngươi ăn mặc gấm vóc học hành suốt ba năm… là từ đâu mà có?!”
Lý Cẩn khựng lại, mặt hắn bỗng chốc tái nhợt: “Nàng… nàng nói lung tung gì đó?!”
“Ta nói lung tung sao?”
Ta rút từ trong ngực áo ra một chiếc bao gấm đã được niêm phong cẩn thận. Ta không chỉ mang theo một bản khế ước, mà là toàn bộ bằng chứng mà ta đã cho người âm thầm thu thập suốt hai năm qua. Ta giơ cao một tờ giấy có dấu ấn đỏ chót:
“Các vị quan khách. Đây là tờ khế ước cầm cố thê tử do chính tay Lý Cẩn ký kết cách đây tám năm. Hắn đã cầm cố ta cho nhà họ Vương làm người đẻ thuê trong ba năm, để đổi lấy lương thực và tiền bạc chảy thẳng vào túi của hắn. Hắn lấy thân xác, máu và nước mắt của thê tử mình để xây dựng căn nhà khang trang, diễn một vở mang tên người chồng nghĩa khí, bao dung.”
Từng tiếng “Ồ” lần lượt vang lên trong sảnh chính. Toàn bộ quan khách ai nấy đều bàng hoàng. Chưa dừng lại ở đó, ta tiếp tục rút ra tờ giấy thứ hai là bản sao sổ sách nợ nần và giấy bán nhà của Lý Cẩn:
“Sau khi vụ việc cầm cố thê tử bị vạch trần ở quê nhà, hắn bị tộc trưởng gạch tên khỏi gia phả, bị chủ nợ xiết nhà vì thua cờ bạc. Hôm nay hắn mò đến Nam Hải không phải vì tình nghĩa, mà vì lòng tham không đáy, muốn cướp đoạt công sức lao động của hàng trăm người phụ nữ ở tiệm gấm Thanh Y chúng ta!”
Ta bước từng bước tiến lại gần Lý Cẩn. Mỗi bước chân của ta tựa như một quả tạ đè nặng lên ngực hắn. Lý Cẩn run rẩy, co cụm lại dưới sàn đá, không dám ngước mắt nhìn thẳng vào ta. Ta quay sang Triệu Bá, ánh mắt sắc như lưỡi dao:
“Còn ông, Triệu Bá! Ông câu kết với một kẻ bán vợ nuôi thân, một gã cờ bạc cặn bã bất tín bất nghĩa để dàn dựng màn kịch này nhằm phá hoại danh tiếng của gấm Thanh Y sao? Ông nói về chữ ‘Tín’ và chữ ‘Đức’ sao? Ông cũng biết gã Lý Cẩn này vừa đặt chân đến Nam Hải đêm qua đã ký với ông khê ước gì mà, đúng không?”
Ta ném thẳng một tờ giấy khác xuống trước mặt Triệu Bá. Đó chính là tờ giấy cam kết mà Lý Cẩn đã bí mật ký với Triệu Bá đêm qua. Trên đó viết rằng nếu chiếm được tiệm gấm Thanh Y, Lý Cẩn sẽ bán lại toàn bộ xưởng gấm cho Nghĩa Bang với giá rẻ.
Sự thật vỡ lở. Toàn bộ quan khách và các thương nhân lớn đều vô cùng tức giận. Bọ họ nhận ra Triệu Bá không chỉ đê tiện mà còn coi thường trí tuệ của giới thương gia Nam Hải. Các vị quan lại có mặt tại buổi tiệc đập bàn đứng dậy, lệnh cho lính tuần bến lập tức bắt giữ Lý Cẩn vì tội vu khống, lừa đảo và phá hoại trật tự thương trường.
Mặt Triệu Bá xám như tro tàn, không thốt nổi một lời. Danh tiếng của Nghĩa Bang hoàn toàn sụp đổ chỉ trong một đêm.
Đêm đó, Lý Cẩn bị tống vào ngục Nam Hải vì tội lừa đảo và thiếu nợ không có khả năng chi trả. Triệu Bá vì muốn phủi sạch trách nhiệm và cứu vãn chút danh dự còn lại của Nghĩa Bang, đã lập tức rút toàn bộ tiền bảo lãnh, thậm chí còn bí mật cho tay chân vào ngục dạy cho Lý Cẩn một bài học vì đã làm hắn mất mặt.
Một tháng sau, Lý Cẩn được thả ra khỏi ngục. Nhưng lúc này, hắn chỉ còn là một kẻ tàn phế. Một bên tay bị đánh gãy, chân kia khập khiễng, mặt mũi biến dạng vì những trận đòn độc ác. Hắn không có một đồng dính túi, không có người thân, cũng chẳng còn nơi để về.
Mùa đông Nam Hải lại đến. Những cơn gió biển rét mướt lại gào rít qua từng khe đá bên bến sông. Lý Cẩn co quắp trong bộ quần áo rách rưới bẩn thỉu, chui rúc dưới đúng gầm cầu thang gỗ của xưởng nhuộm cũ mà ta đã từng tá túc năm xưa.
Số phận đã tạo nên một vòng quay nghiệt ngã và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Hắn phải sống đúng cuộc đời tăm tối, dơ bẩn mà hắn từng thẳng tay đẩy người vợ của mình vào.
Chiều hôm đó, tuyết đầu mùa bắt đầu rơi nhẹ. Ta khoác trên mình chiếc áo choàng lông thú màu trắng tinh khôi, bước xuống chiếc xe ngựa sang trọng dừng lại bên bến sông, chậm rãi bước đến trước gầm cầu thang.
Lý Cẩn đang run cầm cập trong góc tối, tay cầm chiếc bát sứt mẻ xin cơm thừa canh cặn. Khi nhìn thấy đôi giày thêu hoa sen bạc sang trọng dừng lại trước mặt, hắn chậm rãu ngước mắt lên nhìn.
Nhìn thấy ta, mắt Lý Cẩn dại ra. Hắn không còn gào khóc, không còn giở trò tráo trở. Sự trừng phạt tàn nhẫn nhất không phải là cái chết, mà là việc hắn phải sống trong vũng bùn và ngước nhìn người phụ nữ mình từng chà đạp đang đứng ở đỉnh cao danh vọng.
Hắn run rẩy chìa chiếc bát sứt mẻ về phía ta, giọng thều thào như tiếng mèo kêu:
“A Trúc… Ta chết mất thôi… Ta đói quá… Cho ta cái gì ăn đi…”
Ta nhìn hắn. Chẳng phải câu nói này rất quen sao? Trong mắt ta lúc này không hề có hận thù, cũng chẳng có chút động lòng thương hại.
Ta rút ra tờ khế ước cầm cố vợ năm xưa từ trong chiếc bao gấm. Trước mặt Lý Cẩn, ta châm lửa vào góc tờ giấy. Ngọn lửa vàng cam cứ thế bùng lên trước gió biển. Tờ giấy ghi lại sự nhục nhã, cay đắng của cuộc đời ta cháy thành tro tàn, bay lơ lửng rồi rơi xuống dòng nước sông đông lạnh giá.
Ta vứt chiếc bao gấm rỗng xuống đất ngay trước mặt hắn, cất giọng nhẹ tênh:
“Lý Cẩn, nợ nần giữa ta và ngươi, đến hôm nay xem như đã tận.”
Ta quay lưng bước lên xe ngựa. Tiếng bánh xe nghiến trên nền đá vang lên đều đặn, bỏ lại sau lưng tiếng gào khóc tuyệt vọng của Lý Cẩn hòa lẫn trong tiếng sóng biển gầm gừ.
Màn kịch báo ứng đã hạ màn. Nhưng con đường phía trước của Hạ chưởng quầy đã tự mình bước ra từ vũng bùn mới chỉ thực sự bắt đầu…
----
Sau đêm Hội nghị Thương gia bão táp, tiệm gấm Thanh Y không những không bị nhấn chìm mà còn trỗi dậy mạnh mẽ như phượng hoàng trùng sinh từ tro tàn. Câu chuyện về một người phụ nữ bản lĩnh, kiên cường đứng lên từ vũng bùn, công khai đập tan mưu đồ đê tiện của chồng cũ và gã thương nhân tham lam Triệu Bá đã lan truyền khắp Nam Bắc.
Các thương thuyền phương Tây và đại gia tộc Kinh thành tìm đến tiệm gấm Thanh Y càng lúc càng đông. Họ đến không chỉ vì gấm vóc và mứt quà cao cấp, mà còn vì nể phục đối với Hạ chưởng quầy.
Trái ngược với ta, Triệu Bá và Hội buôn Nghĩa Bang rơi vào thế thù trong giặc ngoài. Danh tiếng bị hủy hoại hoàn toàn sau vụ tráo trở vu khống, các thương gia lớn lần lượt rút vốn khỏi Nghĩa Bang. Những hợp đồng cung cấp vải gấm cho triều đình và xuất khẩu bị triệt hạ. Để cứu vãn tình thế, Triệu Bá liều lĩnh đánh một nước cờ khác. Hắn dồn toàn bộ của cải tích góp cả đời, thậm chí thế chấp cả thôn trang và phủ đệ để nhập một lô hàng sợi tơ tằm thượng hạng khổng lồ từ Tây Vực, mưu đồ hạ giá bán tháo để b*p ch*t các xưởng dệt nhỏ lẻ và tiệm gấm Thanh Y.
Thế nhưng, hắn không ngờ rằng toàn bộ thông tin về chuyến hàng đó đã nằm trong tay ta từ hai tháng trước.
Bằng sự điềm tĩnh và nhạy bén của một người đã trải qua muôn vàn sinh tử, ta không hề nao núng. Ta cho gia nhân bí mật thu mua toàn bộ lượng chất nhuộm thảo mộc tự nhiên trên thị trường Nam Hải và các tỉnh lân cận. Cùng lúc đó, ta đàm phán với các thương thuyền phương Tây, ký hợp đồng độc quyền cung cấp dòng gấm thêu hoa văn cổ truyền nhuộm màu tự nhiên. Ấy là thứ mà lô sợi tơ Tây Vực của Triệu Bá không thể nào bắt chước theo được.
Khi lô hàng khổng lồ của Triệu Bá cập bến Nam Hải, hắn cay đắng nhận ra không một thương nhân lớn nào chịu mua lô tơ trắng của hắn. Hắn không có công thức nhuộm màu tự nhiên, cũng chẳng có đội ngũ thợ thêu tay nghề cao như những người phụ nữ ở cửa tiệm Thanh Y.
Mỗi ngày trôi qua, tiền lãi vay từ bọn cho vay nặng lãi như hòn tuyết càng lăn lại càng lớn. Lô tơ tằm bị ẩm mốc trong kho bến sông, dần bốc mùi hôi. Chỉ sáu tháng sau, Triệu Bá tuyên bố phá sản. Toàn bộ tài sản, phủ đệ và xưởng dệt của hắn bị quan phủ niêm phong xiết nợ. Đế chế Nghĩa Bang từng lũng đoạn thương trường Nam Hải suốt hai mươi năm đã hoàn toàn tan thành mây khói.
Ngày xưởng dệt lớn nhất của Nghĩa Bang bị đem ra đấu giá, ta đích thân bước vào, bỏ ra một số tiền lớn, thu mua lại toàn bộ xưởng dệt, biến nó thành xưởng sản xuất thứ ba của tiệm gấm Thanh Y, mở rộng quy mô thu nhận thêm hàng trăm người phụ nữ sa cơ lỡ bước khác.
Thương nhân Triệu bá từng xưng hùng xưng bá cuối cùng phải ôm đồ rời khỏi Nam Hải trong sự nhạo báng của giới thương gia. Thương trường tàn nhẫn là vậy, kẻ cậy quyền cậy thế, dùng thủ đoạn đê tiện cuối cùng sẽ bị chính sự tham lam của mình quật ngã.
……….
Khi ta đã ở độ tuổi ngũ tuần, tuy tóc đã lốm đốm sợi bạc nhưng ánh mắt vẫn sáng rõ, thần thái uy nghiêm. Tiệm gấm Thanh Y đã trở thành một biểu tượng của sự tự chủ và tôn nghiêm của phụ nữ phương Nam.
Một chiều thu lộng gió, bến sông Nam Hải rợp bóng những lá cờ thương thuyền ngược xuôi. Một chiếc thuyền quan lại sang trọng, chạm khắc tinh xảo chậm rãi cập bến.
Từ trên thuyền, một vị quan trẻ tuổi mặc triều phục màu lam nhạt, thắt đai lưng ngọc bước xuống. Vị quan trẻ khoảng hơn hai mươi tuổi, lông mày rậm như kiếm, ánh mắt sáng quắc chất chứa sự điềm tĩnh, chín chắn vượt xa độ tuổi. Theo sau vị quan là đoàn gia nhân ôm theo nhiều tráp quà phủ vải gấm đỏ bên trên.
Vị quan trẻ tuổi không đi đến phủ nha Nam Hải, mà thẳng tiến về phía tiệm gấm Thanh Y. Khi bóng vị quan bước qua ngưỡng cửa đá của tiệm gấm, tất cả thợ thêu và khách hàng đều giật mình xầm xì bàn tán.
Ta đang đứng trên lầu hai kiểm tra xấp gấm mới dệt, nghe tiếng động thì chậm rãi bước xuống cầu thang gỗ. Bốn mắt nhìn nhau giữa không gian tĩnh lặng. Thời gian như ngừng trôi. Ta nhìn gương mặt của vị quan trẻ tuổi kia. Dù hắn đã trưởng thành, dù khoác trên mình bộ triều phục uy nghiêm, nhưng trong ký ức vụn vỡ của ta hơn hai mươi năm trước tại Vương gia, đứa trẻ vừa lọt lòng đã bị người ta bế xốc đi, thậm chí ta còn chưa kịp nhìn rõ hình dáng của con, chỉ nhớ duy nhất vết bớt đỏ hình cánh hoa gần bên tai đứa bé trước khi thiếp đi vì kiệt sức. Làm sao ta có thể quên được?
Đó chính là đứa trẻ sơ sinh bị bế đi khỏi tay ta hơn hai mươi năm trước tại nhà họ Vương.
Vị quan trẻ tuổi đứng nhìn ta. Ánh mắt hắn xao động dữ dội, đôi tay giấu dưới ống tay áo rộng khẽ run lên. Hắn nhìn kỹ gương mặt đã dần hằn lên những dấu vết của thời gian, nhưng tràn ngập sự tự tại, kiêu hãnh của một người phụ nữ đã tự tay dệt nên giang sơn của chính mình.
Hắn tiến lại gần ta vài bước. Đám gia nhân định đi theo nhưng bị hắn giơ tay dừng lại. Vương thiếu gia giờ đây đã là Quan Tri huyện tân nhiệm ở vùng lân cận. Hắn chắp hai tay trước ngực, cúi đầu chào ta theo đúng lễ nghi của một hậu bối đối với bề trên đáng kính:
“Hạ chưởng quầy, hạ quan là Vương Tĩnh Hiên, Tri huyện tân nhiệm. Hôm nay đi qua đây, nghe danh đức độ và bản lĩnh của phu nhân đã lâu, đặc biệt đến bái phỏng và đặt mua gấm làm quà mừng thọ cho mẫu thân ở Kinh thành.”
Lời nói của hắn lịch thiệp, giữ trọn tôn nghiêm cho cả hai người trước mặt đông đảo quan khách. Nhưng trong hai từ “Mẫu thân” mà hắn thốt ra có một nhịp ngắt khẽ run rẩy mà chỉ có ta và hắn mới cảm nhận được.
Ta mỉm cười, bước xuống bậc thang, tự tay nâng hắn dậy:
“Quan đại nhân quá lời rồi. Được Tri huyện đại nhân ghé thăm là vinh hạnh của tiệm gấm Thanh Y chúng ta.”
Ta dẫn Vương Tĩnh Hiên lên gian phòng trà thanh tĩnh ở lầu hai. Tại đây, không có gia nhân, không có người ngoài. Bình trà hoa cúc ở giữa bàn tỏa hương thơm thanh khiết. Vương Văn Hiên nhìn ta, trong mắt tựa như có ánh nước.
“Con… con đã biết toàn bộ sự thật từ ba năm trước, khi tổ mẫu qua đời.”
Giọng Vương Văn Hiên nghẹn ngào, xưng con rất tự nhiên.
“Trước khi tổ mẫu mất cũng đã nói cho con biết đôi lời về người… và về tờ khế ước năm đó. Con đã tìm người suốt ba năm nay…”
Hắn quỳ sụp xuống trước mặt ta, đôi bàn tay ôm lấy đầu gối ta:
“Mẫu thân. Con đã đỗ đạt làm quan, đã có thể đón người về phụng dưỡng. Người hãy theo con về phủ, rời khỏi chốn thương trường đầy rẫy tranh đoạt này. Con sẽ dâng lên người tất cả vinh hoa phú quý để bù đắp cho những nhục nhã mà người phải chịu đựng năm xưa…”
Ta nhìn đứa con do chính mình mang nặng đẻ đau sinh ra đang quỳ dưới chân. Giọt nước mắt nóng hổi của hắn thấm qua lớp vải gấm trên đầu gối ta.
Hơn hai mươi năm trước, ta từng ao ước có một ngày được ôm con vào lòng biết bao, được nghe con gọi một tiếng “Mẫu thân”. Cho dù ta hận những kẻ đã ép buộc ta, nhưng đứa bé ấy, ta không có cách nào ngừng nỗi nhung nhớ. Ta từng nghĩ nếu gặp lại đứa bé ấy, ta sẽ ôm lấy nó mà khóc cho kiệt cùng nước mắt của một đời người. Thế nhưng lúc này đây, lòng ta lại bình thản đến lạ
Ta nhẹ nhàng vỗ vỗ lên vai hắn, nhẹ tay nâng hắn đứng dậy rồi ấn ngồi xuống ghế. Tự tay rót cho hắn một tách trà nóng.
“Văn Hiên, nghe ta nói đây.” Giọng ta ấm áp nhưng vô cùng kiên định.
“Dù ta chưa thể nuôi dưỡng con ngày nào, con có lòng hiếu thảo này, ta đã vô cùng mãn nguyện rồi. Nhưng ta không thể theo con về phủ.”
Văn Hiên ngơ ngác nhìn ta: “Tại sao? Chẳng lẽ người vẫn còn trách nhà họ Vương? Vẫn còn oán hận những người đã từng ép buộc người trong quá khứ?”
“Không.” Ta lắc đầu, ánh mắt nhìn ra cửa sổ, hướng về phía bến sông Nam Hải nhộn nhịp.
“Ta đã không còn oán hận nhà họ Vương hay Lý Cẩn nữa rồi. Hận thù chỉ làm lòng người đắng chát, mà ta thì đã gột sạch nó từ lâu rồi.”
Ta nắm lấy bàn tay hắn, khẽ cất lời:
“Con là Tri huyện, là học trò của đại thần, có con đường làm quan thênh thang phía trước. Gia thế nhà họ Vương cho con nền tảng đó, và con thuộc về nơi đó.”
“Còn ta… ta là Hạ chưởng quầy của tiệm gấm Thanh Y. Phía sau ta không chỉ là cuộc đời của riêng ta, mà là cuộc sống của hàng trăm người phụ nữ sa cơ lỡ bước, những góa phụ, những cô nương bị tổn thương đang nương tựa vào tiệm gấm này. Nơi đây là máu, là mồ hôi, là nước mắt, và là tôn nghiêm mà ta tự tay giành lại từ vũng bùn nhơ nhớp. Ta sống ở đây, làm chủ cuộc đời mình, mới là một A Trúc thực sự đang sống.”
Văn Hiên nhìn ta, đôi mắt từ ngơ ngác dần chuyển sang chấn động và nể phục sâu sắc. Hắn nhận ra người mẹ sinh ra mình không phải là một người phụ nữ tội nghiệp cần được chở che hay ban ân huệ, mà là một người phụ nữ vĩ đại, tự do và kiêu hãnh.
“Mẫu thân…” Văn Hiên thì thào, giọt nước mắt lăn dài trên má.
Ta mỉm cười, chìa ra cho hắn xấp gấm xanh ngọc thêu hoa sen bạc đẹp nhất trong tiệm.
“Ở đây cứ gọi ta Hạ chưởng quầy là được. Con mang xấp gấm này về làm quà mừng thọ cho Vương phu nhân. Bà ấy đã có công nuôi dưỡng con thành tài, đó là ơn nghĩa con phải đền đáp, cũng là dành cả đời để đền đáp.”
Văn Hiên đứng dậy, dùng hai tay nhận lấy xấp gấm. Sau đó lùi lại ba bước, chắp tay cúi đầu thật sâu trước ta. Đó không chỉ là sự tôn kính dành cho người mẹ sinh thành, mà còn là sự bái phục dành cho một nhân cách cao cả.
……….
Mười năm sau cuộc hội ngộ đó. Ta đã bước vào tuổi sáu mươi. Tóc ta gần như đã bạc trắng cả đầu, nhưng bước chân vẫn vững vàng, đôi mắt vẫn minh mẫn và thần thái vẫn đĩnh đạc như xưa.
Tiệm gấm Thanh Y giờ đây đã phát triển thành một hệ thống xưởng dệt và cửa hàng trải dài suốt năm tỉnh phương Nam. Hàng ngàn người phụ nữ bất hạnh đã tìm thấy mái nhà, sự tự do và tự trọng tại nơi này. Nhiều người trong số họ đã tự lập nghiệp, trở thành những nữ thợ thêu, nữ thương nhân tài ba.
Trời chiều Nam Hải ngả sang màu cam đỏ. Ánh hoàng hôn vàng rực dát một lớp vàng lỏng lên mặt sông lấp lánh sóng vỗ. Ta khoác chiếc áo choàng gấm màu lam, một mình thong thả bước ra bờ sông.
Gió biển thổi nhẹ vạt áo, khiến những sợi tóc bạc phơ bay phất phơ trong nắng chiều. Từ phía xa, chiếc thuyền quan lại của Tri huyện Vương Văn Hiên đang rẽ sóng ra khơi trong chuyến Kinh lý. Trên mạn thuyền, vị quan trẻ đứng nhìn về phía bến cảng, chắp tay cúi chào bóng hình người phụ nữ mặc áo lam đứng trên phiến đá.
Ta mỉm cười, giơ tay khẽ vẫy chào.
Không xa phía dưới bến sông, dưới gầm cầu thang gỗ của xưởng nhuộm cũ năm xưa, bóng dáng một gã ăn xin già nua, tàn phế, run rẩy co quắp trong vũng bùn đã không còn nữa. Lý Cẩn đã chết vào một đêm đông giá lạnh ba năm trước, được mai táng trong một nấm mồ vô danh ngoài bãi bồi.
Cả một đời tráo trở, tính toán, chà đạp thân thể và danh dự người khác, cuối cùng đã chẳng mang theo được gì ngoài sự khinh bỉ của người đời và cái chết trong cô độc.
Ta đứng trước bến sông, hít một hơi thật sâu trước làn gió biển. Trong lòng đã không còn một gợn oán hận, cũng chẳng còn một thoáng đau thương. Tất cả những giọt nước mắt, những vết sẹo rớm máu trên đôi bàn tay nứt nẻ năm xưa… giờ đây đều đã hóa thành những đóa hoa sen rực rỡ nhất trên nền gấm.
Hạ Trúc hay Hạ chưởng quầy đã không gục ngã trước số phận tàn nhẫn. Ta không đợi sự cứu rỗi từ bất kỳ người đàn ông nào, cũng không sống dựa vào sự thương hại của thế gian.
Đôi bàn tay chai sạn này đã tự mình đạp bằng sóng gió, tự tay dệt nên nền gấm kiêu hãnh cho cuộc đời mình.
Thế gian này thường dạy người phụ nữ phải nhẫn nại, phải hy sinh, phải phụ thuộc vào tấm lưng của phu quân để tìm kiếm bình yên. Nhưng lại không dạy chúng ta rằng, khi giông bão ập đến, chính tấm lưng ấy lại là thứ sẵn sàng đè bẹp ngươi xuống vũng bùn nhơ nhớp nhất.
Đừng sợ những giọt nước mắt hay những vết sẹo rớm máu của quá khứ. Giọt nước mắt rớt xuống bùn lầy không phải để dập tắt hy vọng, mà là để tưới tắm cho một bản thể kiên cường hơn ngày một lớn lên trong nắng gió.
Sự tôn nghiêm, tự do và hạnh phúc vĩnh cửu của người phụ nữ… tuyệt đối không đến từ sự ban ơn hay lòng thương hại của kẻ khác. Nó nằm ngay trong đôi bàn tay tự chủ của chính chúng ta đấy mà.
(Kết thúc)