Gai Chanh - Oai Thất Thất

Chương 23


Chương trước Chương tiếp

Cảm giác đầu tiên khi lọt thỏm vào vòng tay anh là đau.

Xương bả vai của Chu Tự Dương vô cùng cứng cáp, cấn cực kỳ, đập “bộp” một cái trúng ngay trán Hứa Nhan.

Cảm giác thứ hai là ướt át.

Người nọ mặc chiếc áo khoác gió mỏng, những hạt nước nhỏ li ti bám thành lớp sương trên bề mặt vải chống thấm, dính một ít sang gò má cô, sau đó nương theo động tác mà giũ rớt, văng ướt cả vạt áo.

Cảm giác thứ ba là ấm áp.

Dáng người anh cao lớn vững chãi, xoay lưng về phía đầu gió, vừa vặn có thể che chắn. Hơi ấm cơ thể từ từ truyền sang, hoàn toàn chẳng mang chút cảm giác ép buộc hay xâm chiếm nào.

Khi thanh âm trầm khàn của Chu Tự Dương truyền đến bên tai, dòng nước mắt vừa cố kìm nén càng không thể kiểm soát nổi mà tuôn trào.

Hứa Nhan vốn chẳng muốn rơi lệ trước mặt người khác. Ngay lúc này, trán cô tì chặt vào lồng ngực đối phương, cô cúi gằm mặt, buông lời cứng cỏi bướng bỉnh “Tôi không có khóc”, thế nhưng lại bị chất giọng nghẹn ngào nghẹt mũi bán đứng hoàn toàn.

Cánh tay phải của Chu Tự Dương buông thõng tự nhiên, tay trái thì vỗ nhè nhẹ lên lưng cô: “Khóc ra được sẽ thấy dễ chịu hơn.”

Kẻ có bản tính lạnh nhạt thờ ơ như anh, ngay khoảnh khắc tận mắt chứng kiến thi thể của Đặc Mộc Kỳ, phòng tuyến cảm xúc cũng bị đánh sập hoàn toàn. Tiếng gào khóc xé ruột xé gan của Tát Nhật Cái đâm thẳng vào tâm can, quá đỗi chói tai, quá đỗi sắc nhọn, từng tiếng thét gào đều như bóp nghẹt lấy trái tim, hằn lên những nếp gấp của sự trân trọng và kính sợ đối với sinh mệnh.

Mỉa mai làm sao, mới sáng sớm anh còn có thể bàng quan lạnh nhạt chứng kiến sự lụi tàn của sinh mệnh, đinh ninh rằng vạn sự trên đời đều đã có số kiếp. Vậy mà chập tối, dưới sức giáng quá lớn của muôn vàn cảnh tượng sinh ly tử biệt, anh lại không kìm được mà suy ngẫm về những khả năng để nỗ lực sống tiếp một cách tích cực hơn.

Hơi thở của hai người vương vấn đan xen, cơ thể vô thức ngả về phía đối phương, tuy nhiên vẫn chừng mực giữ lại một khoảng cách cỡ nửa bàn tay chứ không hề vượt quá giới hạn.

Cằm Chu Tự Dương tì l*n đ*nh đầu Hứa Nhan, khó tránh khỏi việc cọ phải những lọn tóc tơ, mang lại thứ cảm giác ngứa ngáy lăn tăn. Anh chủ động hùa theo chiều cao của đối phương, hơi khom lưng xuống, san sẻ đôi chút sức nặng của chính mình lên người cô.

Mệt mỏi quá, thực sự chỉ muốn buông tiếng thở dài để chợp mắt nghỉ ngơi đôi chút.

Hơi ấm ùa vào mặt, Hứa Nhan chẳng thể nào lý giải nổi vì cớ gì nước mắt cứ tuôn rơi mỗi lúc một nhiều, cô chỉ biết rằng đã từ rất lâu rồi bản thân không có được một cái ôm như thế này. Sạch sẽ, thanh mát và giữ kẽ, hệt như chính con người anh vậy. Thế rồi, chút hương xà phòng len lỏi vào khoang mũi, gợi lên một ảo giác tựa hồ đã từng quen biết, lại một lần nữa dấy lên nỗi chua xót nghẹn ngào.

Tận sâu trong lòng cả hai, đây là một cái ôm không vướng bận chút tình cảm nam nữ nào.

Chỉ vì những con người trưởng thành đã đơn độc rảo bước quá lâu, mượn màn đêm tăm tối để tạm thời tháo gỡ lớp vỏ bọc phòng bị trong tim, đúng lúc đụng trúng nhau rồi lấy đối phương làm chỗ dựa dẫm đôi chút mà thôi.

Hứa Nhan chẳng hề tỏ ra xa lạ, tay nắm chặt lấy áo đối phương để quệt nước mắt, thuận theo bản năng tìm kiếm hơi ấm mà xích lại gần thêm một chút. Cô nương tựa vào nhịp tim đập trầm ổn của anh hòng xua tan đi những tiếng gào khóc sắc lẹm cứ văng vẳng lặp đi lặp lại trong tâm trí.

Quanh chóp mũi Chu Tự Dương là hương thơm nhẹ nhàng thanh tao trên người cô, anh bất giác hít sâu vài lần, trong lòng bỗng nảy sinh một cảm giác bình yên lạ thường.

Khoảnh khắc buông nhau ra, cả hai không hẹn mà cùng dời ánh mắt đi hướng khác.

Gió lạnh thình lình từ tứ phía thổi thốc tới, rét buốt rít lên từng cơn. Hứa Nhan lau đi những vệt nước mắt còn vương lại trên má: “Tát Nhật Cái sao vẫn chưa về vậy?”

Khoảng trống trước ngực bỗng chốc trở nên hụt hẫng, Chu Tự Dương tiện tay vuốt lại nếp vải nhăn nhúm ngay lồng ngực: “Dì ấy ở lại bệnh viện để lo liệu thủ tục. Dì bảo ban đêm trên thảo nguyên nhiều nguy hiểm nên đã nhờ tôi quay về trông nom Nhã Mộc Hãn.”

“Dì ấy ở đó một mình liệu có ổn không?” Hứa Nhan vừa thốt ra câu hỏi đã tự lẩm bẩm trả lời: “Tát Nhật Cái kiên cường đến vậy, chắc chắn sẽ ổn thôi.”

Chu Tự Dương liếc nhìn chóp mũi đang ửng đỏ của cô: “Còn cô thì sao? Đã đỡ hơn chút nào chưa?”

Hứa Nhan rũ đầu xuống: “Mọi chuyện xảy ra quá đỗi đột ngột, người bình thường thực sự chẳng cách nào chấp nhận nổi. Hiện tại tôi rất lo lắng cho Nhã Mộc Hãn.”

Chu Tự Dương hất cằm về phía lều Mông Cổ: “Em ấy ngủ rồi sao?”

“Khóc đến kiệt sức rồi, chợp mắt nghỉ ngơi một lúc cũng tốt.”

Chu Tự Dương túm nhẹ ống quần rồi ngồi xuống, nhen lên một đống lửa trại. Hứa Nhan phóng tầm mắt về phía những đống rơm khô được đóng thành từng tảng vuông vức chất cạnh lều Mông Cổ, trong đầu bất giác tái hiện lại hình bóng Đặc Mộc Kỳ lúc giữa trưa, ông chú ấy vẫn còn đang tất bật chạy ngược chạy xuôi để lo toan sắm sửa cho mùa đông sắp tới.

“Tát Nhật Cái bảo Đặc Mộc Kỳ vừa mới đón sinh nhật bước sang tuổi năm mươi tư vào tháng trước. Đêm qua bầy cừu trong chuồng bị sói tập kích, trùng hợp thay, hôm nay số cừu lùa ra đồng cũng đúng năm mươi tư con.” Chu Tự Dương móc ra một tờ giấy được gấp gọn, đưa tận tay cho Hứa Nhan.

Cô mở ra xem: Nào là chiếc bánh kem sinh nhật, con số 54, bầy cừu, tia sét giáng xuống và cả những giọt nước mắt của Tát Nhật Cái. Chỉ với vài nét phác họa đơn sơ, bức vẽ ấy đã lột tả trọn vẹn thói đời vô thường.

“Theo quan niệm duy tâm ở quê chúng tôi, đàn ông bước sang tuổi năm mươi tư sẽ gặp phải kiếp nạn. Là kiếp nạn, anh có hiểu từ này không?”

Chu Tự Dương gật đầu. Trong lòng anh đột nhiên nổi lên một sự thôi thúc mãnh liệt muốn dùng tiếng Trung để trò chuyện cùng cô. Thế nhưng ngay sau đó, anh lại sực nhớ tới lời dặn dò của bác sĩ tâm lý: “Một khi ký ức đã gắn liền với những ngữ cảnh nhất định, tuyệt đối đừng tùy tiện làm xáo trộn chúng.”

Hứa Nhan vẫn tiếp tục lẩm bẩm một mình: “Lúc trước nghe các cụ già rỉ tai nhau, tôi cứ luôn cảm thấy mấy lời này thật hoang đường.”

Bốn năm về trước, Cao Dũng Bân cũng vừa bước sang tuổi năm mươi tư. Các cụ trong nhà đứng ra lo liệu rình rang, cất công thỉnh cao tăng về tụng kinh tích đức, nhằm xua đuổi tà khí xui xẻo. Kết cục chẳng biết là do trùng hợp hay là “sợ điều gì thì điều ấy ập tới”, năm ấy tai họa cứ liên tiếp giáng xuống đầu ông: Đi qua công xưởng thì bị ngã gãy chân, trên đường về nhà lại gặp phải vụ va chạm giao thông liên hoàn ba xe, thậm chí đang đi bộ đàng hoàng trên phố cũng bị người ta xông vào đánh cho nhừ tử, tới mức xuất huyết dạ dày phải nhập viện cấp cứu.

Dạo đó Cao Khải Nhạc nổi giận đùng đùng, xắn tay áo lên đòi đi tìm người để tính sổ, song lại bị Hứa Văn Duyệt sống chết cản lại, bà chỉ khăng khăng nói rằng cứ giao cho cảnh sát giải quyết.

Đã giải quyết xong chưa ư?

Hứa Nhan không nghe ngóng được diễn biến về sau, chỉ nhớ mang máng bà nội Cao vì quá xót con nên ngày nào cũng thắp nhang khóc lóc ở nhà, cầu xin Bồ Tát hiển linh phù hộ cho con trai được tai qua nạn khỏi, bình an vượt qua kiếp nạn lớn.

“Vậy còn bây giờ thì sao?” Đợi mãi chẳng thấy cô nói tiếp, Chu Tự Dương bèn lên tiếng: “Cô tin cái chuyện tuổi năm mươi tư là một kiếp nạn rồi à? Cô sợ rồi sao?”

“Không sợ.”

Tính đến trước ngày hôm nay, phần lớn những gì Hứa Nhan từng nếm trải đều là cảnh sinh ly, nên cô hoàn toàn chẳng mảy may sợ hãi trước cái chết.

“Không sợ chết” thuở ấu thơ thực chất là một dạng bướng bỉnh và làm mình làm mẩy: Đánh cược xem người nọ liệu có quay trở lại hay không, đánh cược xem cô có thể tự mình vượt qua được nỗi ám ảnh với mặt nước để học bơi hay không, tiện thể phá giải luôn lời nguyền độc địa của gã thầy bói.

Thế nhưng “Không sợ chết” khi đã trưởng thành lại bắt nguồn từ nỗi hoang mang mờ mịt về sinh mệnh. Ý nghĩa thực sự của việc sống trên cõi đời này rốt cuộc là gì? Nếu như không thể nắm giữ quyền làm chủ cuộc đời mình, yêu hay ghét cũng chẳng ai thèm đoái hoài, thậm chí đến cả người bạn đồng hành duy nhất mà cô tin tưởng nương tựa cũng bặt vô âm tín, vậy thì sự tồn tại của cô có phải cũng chỉ là một thứ có cũng được mà không có cũng không sao phải không?

Cô đã tự giam mình trong ngõ cụt luẩn quẩn ấy suốt cả chục năm ròng rã, để rồi ngay giây phút này bỗng nhiên bừng tỉnh: Phải chăng bản thân không cần so đo tính toán xem mình có ý nghĩa như thế nào trong mắt người khác, chi bằng cứ sống một cách tự do tự tại, chiều chuộng cái tôi của mình hơn một chút. Giống hệt như lời Đặc Mộc Kỳ đã từng nói: “Phải sống như một chú chim ưng sải cánh trên thảo nguyên, dẫu có thuận theo chiều gió, nhưng phương hướng bay về đâu nhất định phải do chính bản thân định đoạt.”

Gió thổi mỗi lúc một dữ dội, dăm lần bảy lượt suýt nữa thì dập tắt ngọn lửa trại.

Chu Tự Dương đổi tư thế ngồi nhích lại để cản gió, tiện tay vứt thêm vài nắm rơm khô vào đống củi. Hứa Nhan ngồi ngay đối diện anh, ánh mắt đờ đẫn nương theo ánh lửa bập bùng mà âm thầm phác họa lại đường nét trên gương mặt anh. Cứ lặp đi lặp lại hết lần này tới lần khác, cho đến khi mỗi một lần chớp mắt, bóng hình khuôn mặt tuấn tú ấy lại chân thực hiện hữu trong ảo giác của cô.

Cô bất giác bật cười thành tiếng chẳng rõ nguyên do. Nghe thấy động tĩnh, đối phương liền ngước mắt nhìn. Bốn mắt giao nhau, Hứa Nhan vòng tay ôm lấy hai đầu gối, hiếm hoi lắm mới chủ động nhắc lại chuyện xưa.

“Lần đầu trong đời được nếm thử quả thanh long, tôi còn lầm tưởng bản thân đi nặng ra máu sắp sửa chết tới nơi rồi cơ, hại tôi sợ hãi trốn tịt trong nhà khóc lóc suốt ba ngày liền.”

Năm đó cô bảy tuổi, dưới sự thúc giục của mẹ đã ăn hết một quả thanh long, với hy vọng thứ mang vẻ ngoài xấu xí kia sẽ có tác dụng nhuận tràng kỳ diệu. Cô ngồi trên bồn cầu nhăn nhó mặt mày, giải quyết xong “đại sự nhân sinh”, đến lúc chiêm ngưỡng “chiến lợi phẩm” thì ngây người đờ đẫn: Đống phân đỏ au, đáng sợ và vô cùng chói mắt.

Máu… đầu óc cô ong ong, mình lại đi nặng ra máu…

Bước ra khỏi nhà vệ sinh dưới ánh mắt đầy mong chờ của người nhà, cô nuốt ngược cái sự thật hoang đường kia vào trong, chỉ qua loa đáp rằng đã đi được rồi. Vừa về đến phòng, việc đầu tiên cô làm là lên Baidu tra cứu nguyên nhân đi ngoài ra máu. Bỏ qua các bệnh như trĩ hay nứt kẽ hậu môn, cô tự chẩn đoán bản thân mắc “khối u đường tiêu hóa”, mà lại còn là loại ác tính.

Cú sốc hệt như sét đánh ngang tai hoàn toàn lấn át đi niềm vui nhuận tràng. Cô chẳng dám hé răng nửa lời với người nhà, trằn trọc trăn trở suốt cả đêm, đến tờ mờ sáng thì mò mẫm bò dậy viết một bức di thư.

Những giọt nước mắt rơi lả chả xuống cuốn vở nháp, làm nhòe đi nét chữ.

Cô vừa khóc, vừa viết, vừa đọc thành tiếng, cho đến tận bây giờ vẫn còn nhớ như in phần phân chia tài sản:

Bút chì và cuốn vở nháp thuộc quyền sở hữu của Chương Dương. Tên này thích vẽ vời, lại thích gọt bút chì.

Trách nhiệm nuôi nấng bé mèo đen chuyển giao cho Chương Dương, tiền mừng tuổi của tôi cũng thuộc về cậu ấy, dùng để mua thức ăn và pate cho mèo.

Giấy xuyến chỉ cũng cho Chương Dương vậy, tuy cậu ấy chẳng yêu thích gì tranh thủy mặc, nhưng nó khá có giá trị.

“Bức di thư cụ thể đã viết những gì? Viết cho ai vậy?” Chu Tự Dương bất thình lình cất tiếng gặng hỏi, đốm lửa phản chiếu trong đồng tử anh lúc tỏ lúc mờ.

“Quên rồi.” Hứa Nhan bâng quơ buông ra hai chữ, thản nhiên hỏi ngược lại: “Ai còn nhớ mấy chuyện này cơ chứ?”

Chu Tự Dương vẫn không chịu bỏ qua: “Thế sau đó thì sao?”

Sự thật là cô đã vừa khóc vừa dúi bức di thư vào tay Chương Dương, chết sống cũng không chịu nói nguyên nhân, khiến tên đó sốt ruột đến mức suýt chút nữa là nhảy xuống hồ dọa dẫm để ép cô nói ra. Về sau, khi đã hỏi rõ ngọn ngành mọi chuyện, cậu cười đến mức không gập nổi lưng, buông lời chế giễu cô ngốc nghếch hết chỗ nói, đến chuyện ăn thanh long đi nặng ra phân đỏ mà cũng không biết.

“Mẹ tôi đưa tôi đến bệnh viện.” Hứa Nhan dời ánh mắt đi chỗ khác: “Đúng là một trò hề.”

Chu Tự Dương ra chiều nghĩ ngợi, ánh mắt mang theo đôi chút dò xét. Đột nhiên, Nhã Mộc Hãn vén tấm rèm vải lên: “Hai người không vào trong nhà sao? Bên ngoài lạnh lắm.”

Giọng điệu cô ấy vẫn bình thường như mọi khi, nếu không phải đôi mắt đang sưng húp thì hoàn toàn chẳng thể nhìn ra cô ấy vừa mới trải qua một nỗi đau đớn tột cùng của đời người.

“Sợ làm phiền em nghỉ ngơi.” Hứa Nhan ân cần bước đến bên cạnh cô ấy: “Em có đói không? Phải ăn chút gì đó đi chứ.”

“Em không đói. Mấy giờ rồi ạ?”

“Sắp mười giờ rồi.”

“Cũng không còn sớm nữa, chị và thầy Chu mau đi nghỉ ngơi đi.” Sắc mặt cô ấy tĩnh lặng không chút gợn sóng, đôi mắt tựa như bị phủ kín bởi một lớp màn nhung đen đặc, chẳng còn vẻ trong sáng rực rỡ như thuở trước.

Hứa Nhan đầy lo âu quan sát nét mặt cô ấy: “Bọn chị không mệt đâu, em ngủ thêm một lát nữa đi.” Vốn dĩ cô còn định nói: Lát nữa người thân, bạn bè bôn ba đến viếng tang, sẽ chẳng còn thời gian mà nghỉ ngơi nữa đâu. Thế nhưng khi đối diện với gương mặt xám ngoét như tro tàn ấy, cô thực sự không nỡ cất lời.

Nhã Mộc Hãn chậm rãi lắc đầu, cứ thế ngồi phịch xuống bên đống lửa trại: “Trong lều Mông Cổ lạnh quá, em ra đây sưởi ấm chút.”

Màn đêm buốt giá và đặc quánh, phủ tràn lên cơ thể người ta một thứ cảm giác lạnh lẽo chẳng thể nào bóc tách hay xua tan đi nổi.

Nhã Mộc Hãn lặng thinh ngồi đó. Hứa Nhan và Chu Tự Dương không tiện quấy rầy, đành lặng lẽ nhích lùi về phía sau một khoảng ngắn.

Chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thôi, nơi này chắc chắn sẽ bị bao phủ bởi một màn sương mỏng, ngập ngụa trong bầu không khí tang thương.

Vậy thì cứ để cô ấy tranh thủ thời gian bình tâm đôi chút, đong đếm lại nỗi nhớ nhung dành cho người bố, và cũng là để tâm tình với bản thân tận sâu trong cõi lòng.

Hứa Nhan gục đầu lên đầu gối, chớp mắt vài lần rồi trong cơn mơ màng dần dần lịm đi. Chu Tự Dương nhanh tay lẹ mắt đỡ lấy đầu cô, sau khi cân nhắc một chút, anh nhẹ nhàng xích lại gần để cô có thể tựa hẳn đầu lên vai mình.

Anh hoàn toàn chẳng buồn ngủ chút nào, trong đầu cứ mải miết mổ xẻ câu chuyện mà Hứa Nhan vừa kể. Thanh long, đi ngoài ra máu, bức di thư, ba yếu tố này đan xen lồng ghép vào nhau một cách đầy khéo léo, cấu thành một chuỗi logic hoàn chỉnh chưa từng thấy. Ngặt nỗi, vì sự sai lệch trong một chi tiết quan trọng nào đó, câu chuyện này lại trở nên thiếu đi sức thuyết phục cần có.

Anh nắm chặt nắm đấm rồi lại buông thõng ra, gắng sức bẻ lại mạch suy nghĩ của mình: Đừng có gượng ép áp đặt câu chuyện của người khác nữa, cũng đừng tự huyễn hoặc vẽ vời thêm tình tiết. Dẫu vậy, ánh mắt anh lại chẳng chịu nghe lời mà cứ vô thức lướt về phía hàng chân mày và đôi mắt cô.

Vài lọn tóc mái rủ xuống, mang lại một cảm giác thân thuộc mờ ảo, mong manh. Màn đêm đen kịt càng khoét sâu thêm nỗi nhớ nhung, anh buông thả mặc cho mớ ảo giác kia sinh sôi nảy nở. Theo phản xạ vô thức, anh vươn tay ra, ngay khoảnh khắc đầu ngón tay sắp chạm vào đối phương, bên tai bỗng vang vọng lại một tràng chửi rủa kích động:

“Tên họ Chu kia, tại sao cậu cứ nhìn chằm chằm vào tớ thế? Sau này tớ không thắt bím rết nữa là được chứ gì, vừa lòng cậu chưa?”

“Đồ b**n th**! Có bệnh thì đi khám bệnh đi được không?”

“Tránh xa tớ ra một chút, nếu không tớ báo cảnh sát đấy!”

Anh hệt như người vừa sực tỉnh sau cơn mộng mị, cuống cuồng rụt tay lại, thầm tự giễu cợt chính mình: Chỉ vì vài điểm tương đồng nhỏ nhặt chẳng đáng kể mà lại đi mạo phạm người khác, đúng là hơi giống b**n th** thật. Nghĩ tới đây, anh hận không thể lập tức nhảy bật ra xa để né tránh, ngặt nỗi cái đầu của Hứa Nhan lại nặng trĩu, đè ép khiến anh chẳng thể nào cựa quậy nổi, đành phải ngậm ngùi cam chịu.

Màn đêm chưa từng dài đến thế này.

Cô gái nhỏ trước đống lửa trại vẫn đang đờ đẫn dùng cành cây gảy gảy ngọn lửa, chìm đắm vào một góc trời riêng của bản thân. Còn người đang chìm trong giấc ngủ kia thì lại nhíu chặt mày, trông dáng vẻ có lẽ chẳng mơ thấy mộng đẹp gì cho cam. Chu Tự Dương cố gắng duy trì tư thế ngồi bất động, dẫu chân tay đã tê rần, chỉ vì sợ đánh thức người bên cạnh.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, Hứa Nhan mơ màng mở mắt rồi ngồi thẳng dậy. Trên má cô in hằn đường may áo của anh, cô đưa tay lau lau vệt nước miếng nơi khóe miệng: “Mấy giờ rồi vậy? Ngại quá, thế mà tôi lại dựa vào anh ngủ quên mất.”

Chu Tự Dương vung vẩy cánh tay mấy cái, không nhìn thẳng vào cô: “Trời sắp sáng rồi.”

Lời vừa dứt, phía chân trời cũng dần hiện ra vài vệt sáng màu cam.

Mặt trời vẫn ngoi lên lên như thường lệ. Người thân và bạn bè nghe hung tin bèn tức tốc chạy tới, mở đầu cho một ngày ngập tràn sắc xám xịt buồn bã.

Gia đình Nhã Mộc Hãn theo phong tục thổ táng, họ sẽ quàn thi hài tại linh đường để thân bằng quyến thuộc đến viếng thăm tưởng nhớ, vài ngày sau mới cử hành lễ hạ huyệt cho người đã khuất được mồ yên mả đẹp.

Hứa Nhan và Chu Tự Dương mang phận người ngoài nên không tiện nán lại quá lâu. Sau khi phụ giúp xong những việc nằm trong khả năng, đợi Tát Nhật Cái và Ba Đồ hớt hải chạy về nhà, hai người bèn xin đi nhờ xe ra một thị trấn nhỏ gần đó.

Sáng sớm hôm nay, Du Tùng Duệ cố tình bày trò tạo niềm vui bất ngờ, đánh tiếng rằng muốn gia nhập chuyến đi Nội Mông này. Chẳng ngờ, sự xuất hiện của anh ấy lại vô tình giúp hai người họ thoát khỏi cái cảnh phiền phức vì phải vất vả tìm kiếm chỗ trọ tạm thời.

Ngay trước cửa homestay, Du Tùng Duệ khoác trên mình bộ đồ thể thao màu xám nhạt, dáng vẻ vô cùng phong độ, phấn chấn.

“Hai người đen đi một vòng rồi đấy nhé!” Anh ấy vươn tay ôm lấy từng người một, buông lời nhận xét đầy khoa trương: “Lão Chu đen đi nhìn hệt như cục than vậy.”

Chu Tự Dương mỉm cười ôm anh ấy. Hứa Nhan vô tư vỗ lên lưng anh chàng: “Chẳng phải anh bảo bận đến mức chẳng có cả thời gian ăn cơm sao?”

Du Tùng Duệ đắc ý nhướng mày: “Không có thời gian ăn cơm là vì để chắt bóp ra vài ngày đến tìm hai người chơi đấy.”

“Xì, rõ ràng là anh ham chơi, thế mà lại đổ vạ lên đầu bọn này.”

Du Tùng Duệ dùng ánh mắt dịu dàng đong đếm những sự thay đổi của cô, ánh mắt ngập tràn ý cười: “Đúng là anh ham chơi, nhớ Nội Mông muốn chết đi được. Nãy đi dọc đường nhìn thấy trâu bò cừu, anh thèm chạy ùa tới ôm lấy mà g*m c*n một trận.”

Hứa Nhan bị chọc cho bật cười, tâm trạng cũng nhờ thế mà nhẹ nhõm hơn đôi chút. Chu Tự Dương vốn dĩ đang đứng sát ngay bên cạnh cô, bỗng chốc cảm thấy có phần không được tự nhiên, bèn lặng lẽ nhích người lùi ra xa giữ khoảng cách.

Kiếp nạn tuổi 54: Trong văn hóa dân gian Á Đông, có quan niệm cho rằng vào những năm tuổi nhất định (ví dụ như 36, 45, 54, 73, 84…), con người dễ gặp phải vận hạn xui xẻo hoặc đại nạn liên quan đến sinh tử. Dân gian thường gọi đây là những “cái hạn” hoặc “đại can” của đời người.

Giấy xuyến chỉ (hay giấy Tuyên, Tuyên chỉ): Là loại giấy truyền thống cao cấp có nguồn gốc từ An Huy, Trung Quốc, chuyên dùng cho thư pháp và tranh thủy mặc. Đặc điểm nổi bật là mềm, dai, bền, không mối mọt và có khả năng thấm/nhuận mực tuyệt vời. Giấy thường được làm từ vỏ cây Thanh Đàn và rơm rạ, mang lại nét bút sắc sảo.



Loading...