Nguyên Tiểu Hà

Chương 1


Chương tiếp

Làng Diêu Đại nằm nép mình bên dòng sông cùng tên, vốn là một mảnh đất trù phú với những rặng tre xanh và cánh đồng cò bay mỏi cánh. Thế nhưng, đó là chuyện của mười năm về trước. Sau một trận lũ lụt lịch sử khiến dòng sông đổi dòng, một phần đất ven sông bỗng trở nên khô cằn, đỏ rực như bị thiêu cháy bởi lửa địa ngục. 

Cha ta qua đời vào một ngày đại hạn, khi dòng sông chảy qua làng Diêu Đại đã trơ ra những lớp bùn nứt nẻ như da trâu già. Gia tài ông để lại cho ta chẳng có lấy một đồng tiền vàng, chỉ có một gian nhà tranh dột nát và một mẫu ruộng cằn nằm lẻ loi sát mép sông. Người trong thôn gọi đó là “Mẫu ruộng số Bốn” nhưng cái tên thật sự của nó trong lời kể đêm khuya của các cụ già là Ruộng Quỷ.

Sinh thời, người cha Trương Tứ của ta là người duy nhất trong làng dám đứng ra nhận mẫu ruộng ấy khi triều đình phân chia lại đất đai. Người làng nói ông điên rồi, hoặc không thì ông cũng là kẻ máu lạnh nên mới không sợ âm hồn của những x,á,c c,h,ế,t trôi dạt vào bãi đất ấy. Cha ta không giải thích, chỉ lẳng lặng vác cuốc ra đồng mỗi ngày cho đến khi hơi thở cuối cùng lịm đi trên chiếc giường tre ọp ẹp.

Lễ tang của cha ta sơ sài đến mức đau lòng. Chỉ có một cỗ quan tài gỗ tạp và đứa con gái độc nhất mặc áo tang thô, quỳ lạy giữa căn nhà trống không gió lùa tứ bề, trong thùng không còn lấy một hạt gạo.

Sáng hôm sau khi chôn cất cha, ta vác cuốc ra đồng, thím Trương hàng xóm đứng bên rào gọi với.

“Tiểu Hà! Con bé này, đứng lại đó cho thím!”

Tiếng gọi khàn khàn của thím Trương vang lên từ hàng rào bên cạnh. Thím Trương là hàng xóm sát vách, nổi tiếng là người miệng cứng lòng mềm. Lúc này, thím đang xách một túm rau héo, hớt hải chạy lại gần, đôi mắt nhìn ta đầy vẻ ái ngại xen lẫn tức giận.

“Định đi đâu đấy? Đừng nói với thím là ngươi định ra mẫu ruộng ven sông đó nhé?”

Ta dừng bước, khẽ gật đầu, cố gắng nặn ra một nụ cười: “Thím Trương, cha con mất rồi, nhưng đất thì không thể bỏ hoang. Con ra xem có cuốc xới được gì không, kiếm miếng ăn qua ngày.”

Thím Trương “chát” một tiếng rõ to, đập mạnh tay vào đùi.

“Tiểu Hà à, nghe thím, bỏ mẫu ruộng đó đi. Năm xưa trận lụt lớn, bao nhiêu x,á,c người trôi dạt vào đấy rồi kẹt lại. Mảnh đất đấy ngập tràn âm khí, gieo gì chết nấy, đến cả cỏ dại còn không mọc nổi quá gang tay. Con gái một thân một mình, đừng có dại mà dây vào, coi chừng bị ăn hết không nhả xương.”

Ta nhìn xuống đôi bàn tay gầy gò, chai sạn vì lam lũ.

“Thím, con không sợ đất ăn thịt, con chỉ sợ cái bụng này rỗng thôi. Trong nhà đã không còn gì ăn được nữa rồi.”

Ta chỉ cười, đôi bàn tay gầy gò nắm chặt cán cuốc đã mòn.

“Thím à, cha con nói, đất không phụ lòng người. Nếu con bỏ ruộng, mùa đông này con chỉ có nước đi xin ăn thôi.”

Thật ra, ta không nói cho thím biết, ta không còn đường lui. Cha lâm bệnh nặng, tích cóp trong nhà đã tiêu tốn vào tiền thuốc thang, giờ đây cũng đã vét sạch đến hạt gạo cuối cùng. Nếu mẫu ruộng này không ra hạt lúa nào, ta sẽ phải bán mình cho nhà lão nghị viên ở trấn trên làm nô tì. Mà ở đó, con gái nhà lành vào rồi, có mấy ai được lành lặn trở ra?

Thím Trương nghe vậy, sắc mặt dịu lại đôi chút, thím dấm dẳng lấy trong rổ ra một củ khoai lang, nhét vào trong tay ta.

“Cầm lấy mà lót dạ. Nghe thím, đừng có dại. Hay là thế này, thím nói với lão Lý trưởng cho con làm chân quét dọn ở đình làng, mỗi tháng cũng được vài đấu gạo. Con gái con lứa, dây vào cái mảnh đất bị nguyền rủa ấy làm gì cho ám quẻ đường chồng con?”

“Cảm ơn thím.” 

Ta nắm chặt củ khoai còn vương chút đất, “Nhưng cha nói đất là gốc của người. Người có thể bỏ đất, chứ đất không bao giờ bỏ người. Con muốn thử một lần.”

Ta quay lưng đi, bỏ lại tiếng thở dài thườn thượt của thím Trương ở sau lưng.

“Khổ thân con bé, đúng là cha nào con nấy, cố chấp đến thế là cùng!”

Dọc đường làng, những ánh mắt dõi theo ta không hề giấu diếm sự kỳ thị. Đám trẻ con đang chơi đùa thấy ta đi qua thì đồng thanh hát vang bài đồng dao rùng rợn:

“Ruộng Quỷ ven sông, xương trắng chất chồng. Gieo ngô ngô héo, gieo lúa lúa không. Con gái nhà Trương, sắp vào miệng rồng!”

Ta không thèm để ý, bước chân vẫn vững vàng. Khi ra đến gần bờ sông, không khí bỗng dưng trở nên lạnh lẽo hẳn. Mẫu ruộng số Bốn hiện ra trước mắt, trơ trụi giữa nắng trưa. Đất ở đây không có màu nâu mỡ màng như ruộng của dân làng, mà có màu đỏ thẫm như máu khô, nứt nẻ thành những đường rãnh sâu hoắm, giống như những vết thương chưa kịp lành.

Ta bước xuống ruộng. Mỗi bước chân giẫm lên mặt đất khô khốc đều phát ra tiếng kêu “rắc rắc” của sỏi đá. Ta bắt đầu cuốc nhát đầu tiên.

Keng! Cán cuốc chấn động mạnh khiến lòng bàn tay ta bị rách, máu tươi rỉ ra. Mặt đất cứng như đá tảng, chỉ để lại một vệt trắng nhạt nhẽo. Ta cắn răng, tiếp tục nhát thứ hai, thứ ba…

“Này, Tiểu Hà! Muốn c,h,ế,t thì vào rừng mà thắt cổ, đừng có mang xui xẻo đến cái làng này!”

Một giọng nói cao vút đầy vẻ mỉa mai châm biếm vang lên. Đó là Thu Diên, con gái của lão Nghị viên trên trấn, hôm nay về làng thăm họ hàng. Nàng diện bộ áo gấm màu hồng đào rực rỡ, tay cầm quạt lụa che nắng, đứng trên bờ ruộng nhìn ta với vẻ kinh tởm.

“Ngươi nhìn xem, đôi tay ngươi còn bẩn hơn cả bùn ao. Loại con gái như ngươi, sau này có cho không cũng chẳng ai thèm rước về làm vợ!” 

Thu Diên cười khúc khích, đám nô tì đi theo cũng hùa theo theo bằng những tràng cười khoái chí. Ta dừng tay, dùng tay áo lau mồ hôi trên trán, thản nhiên nhìn nàng.

“Thu Diên tỷ tỷ, ta dùng sức lao động để kiếm miếng ăn, không có gì là bẩn cả. Còn hơn kẻ chỉ biết đứng trên bờ chỉ trỏ, cơm dâng nước rót tận miệng, không hiểu nỗi khổ dân sinh.”

“Ngươi… con nhỏ nghèo kiết xác kia! Ngươi dám nói ta như thế sao?” 

Thu Diên tức đến đỏ mặt, nàng nhặt một cục đất cứng ném về phía ta. Cục đất phi trúng vào vai ta, đau điếng. Nhưng kỳ lạ thay, ngay khi hòn đá đó rơi xuống mặt đất đỏ thẫm của mẫu ruộng, một luồng gió xoáy nhỏ bỗng nhiên nổi lên. Cục đất bị hất ngược trở lại, sượt qua má Thu Diên, để lại một vệt đỏ.

“Á! Ma! Có ma!” 

Nàng hét lên kinh hãi, ôm lấy mặt rồi chạy thục mạng về phía làng, đám nô tì cũng tán loạn chạy theo. Không gian trở lại yên tĩnh. Chỉ còn ta và mẫu ruộng cằn cỗi. Ta không cảm thấy sợ, trái lại, một cảm giác ấm áp lạ lùng lan tỏa từ gan bàn chân lên đến trái tim.

……..

Mẫu ruộng ven sông thật sự rất tệ. Đất ở đây có một màu đỏ sậm lạ lùng, khô khốc và cứng như đá. Ta cuốc một nhát, cán cuốc chấn động khiến đôi tay tê rần, nhưng mặt đất chỉ để lại một vết xước trắng nhạt.

Giữa trưa nắng cháy, ta kiệt sức ngồi bệt xuống giữa ruộng. Mồ hôi nhỏ xuống lớp đất khô, ngay lập tức bị hút sạch không để lại dấu vết. Cảm giác tuyệt vọng như một bàn tay bóp nghẹt lấy cổ họng, ta nhìn mẫu ruộng mênh mông, chẳng kìm được mà lẩm bẩm:

“Ruộng ơi là ruộng, người ta nói ngươi bị nguyền rủa, nhưng ta thấy ngươi cũng giống ta thôi, đều bị người đời hắt hủi cả.”

Ta xoa nhẹ lên lớp đất thô ráp, như thể đang dỗ dành một đứa trẻ. 

“Ngươi chịu mọc lúa lên đi, ta thật sự sắp chết đói đến nơi rồi. Nếu ngươi giúp ta sống qua mùa này, ta hứa, mỗi ngày đều đến đây trò chuyện với ngươi, nhổ cỏ cho ngươi, không để ngươi cô đơn một mình nữa.”

Ta cứ lảm nhảm như thế, kể từ chuyện con mèo nhà thím Trương đẻ toàn con đen, đến chuyện ta nhớ bát canh cá cha nấu, rồi lại thèm bát cháo trắng bỏ thêm chút hành đến nhường nào. Ta nói đến khi cổ họng khô khốc, mệt quá mà thiếp đi ngay giữa đồng không mông quạnh.

Trong cơn mơ màng, ta cảm thấy một luồng hơi mát lạnh từ dưới lòng đất truyền lên, m*n tr*n khắp làn da, như một cái v**t v* dịu dàng mà ta chưa từng cảm nhận được.

………..

Ba ngày sau, một cơn mưa rào bất chợt đổ xuống làng Diêu Đại. Khi ta chạy ra đến ruộng, kinh ngạc đến mức suýt đánh rơi chiếc nón cói rách rưới. Giữa những mảnh ruộng khác trong thôn vẫn còn đang ngắc ngoải vì hạn hán, thì mẫu ruộng của ta đã phủ một màu xanh mướt mát. Không phải cỏ dại. Đó là lúa. Những mầm lúa xanh non, cứng cáp, vươn mình lên cao một cách thần kỳ. Chúng mọc đều tăm tắp, vẫy chào trong gió như một đạo quân nhỏ bé nhưng tràn đầy sức sống.

“Ông Trời ơi…” 

Ta quỳ sụp xuống, chạm tay vào những lá lúa ới phần diềm sắc bén. Chúng không hề làm ta đau, ngược lại, ta cảm nhận được một sự rung động nhẹ nhàng, như thể mảnh đất dưới chân đang… cười?

Kể từ ngày đó, ta giữ đúng lời hứa. Mỗi sáng sớm, khi sương còn đọng trên ngọn cỏ, ta đã có mặt ở ruộng. Ta không cần tốn nhiều công sức tưới tiêu hay bón phân, dường như mẫu ruộng này có một nguồn năng lượng tự thân kỳ lạ. Ta chỉ việc ngồi đó, vừa làm cỏ vừa kể chuyện.

“Hôm nay ta gặp Tống thư sinh ở đầu làng. Trông huynh ấy thật nho nhã, còn giúp ta nhặt cành củi khô nữa. Mọi người nói huynh ấy sắp thi đỗ công danh, là niềm tự hào của vùng này đấy.”

Vừa nói dứt câu, ta bỗng thấy một ngọn gió xoáy cuộn lên làm cho lúa nghiêng ngả. Một tiếng “rắc” giòn tan vang lên, chiếc đòn gánh ta đặt cạnh đó bỗng nhiên gãy làm đôi dù chẳng có ai chạm vào.

Ta ngẩn người, rồi bật cười.

“Ngươi cũng ghen tị vì ta khen người khác sao? Được rồi, không nói về huynh ấy nữa, nói về ngươi đi. Ngươi xem, lúa của ngươi là đẹp nhất cả vùng này rồi.”

Tiểu Hà vẫn nhớ, vào những ngày đầu khi lúa trên “Mẫu ruộng số Bốn” mới bắt đầu trổ bông, dân làng vẫn còn đứng trên bờ đê, chỉ trỏ với vẻ mặt đầy nghi ngờ. Họ tụ tập dưới gốc cây đa đầu làng, những câu chuyện phiếm về Tiểu Hà được thêu dệt thành đủ thứ liêu trai.

“Mấy người xem, trần đời lúa nhà ai lại xanh đến ngắt như thế kia?” 

Thím chuyên bán đậu phụ ở chợ bĩu môi, tay vò nát một lá trầu. 

“Ta thấy con bé đó đã bán linh hồn cho quỷ sông rồi. Nhìn cái cách nó lầm bầm một mình giữa ruộng mà xem, sởn cả gai ốc.”

Lão mù ở cuối xóm thì gõ gậy xuống đất, giọng khàn đặc: “Đất ấy ăn xác người, giờ nó nhả ra lúa, lúa ấy ai mà dám ăn?”

Những ngày ấy, mỗi khi Tiểu Hà đi ngang qua giếng làng, nhóm phụ nữ đang giặt giũ bỗng im bặt, họ vội vàng thu dọn thau chậu, lôi con cái vào trong nhà như sợ một cơn gió độc vừa thổi qua. Những lời chào hỏi của nàng chỉ nhận lại những tiếng hừ lạnh hoặc những cái quay lưng vô cùng dứt khoát. Thím Trương đối xử tốt với nàng nhất cũng bị chồng cấm cửa, không cho sang đưa bánh ngô cho nàng nữa vì sợ lây phải vận rủi.

Thế nhưng, khi cơn đại hạn đổ ập xuống vùng Kinh Nam, bầu không khí ở làng Diêu Đại bắt đầu biến chuyển.

Đó là một buổi trưa nắng cháy da người, khi những cánh đồng vốn được coi là “bờ xôi ruộng mật” của làng đã nứt toác, lúa héo rũ như những búi cỏ khô, thì mẫu ruộng ven sông của Tiểu Hà lại là một ngoại lệ kỳ quái, rộ lên một mùi hương lạ lùng. Nó không phải mùi thơm của lúa chín thông thường, mà là một mùi hương thanh khiết, mát lành, chỉ cần hít một hơi cũng thấy tinh thần sảng khoái, xua tan đi cái nóng như thiêu như đốt.

Lúa nhà ta rũ đầu vàng óng, hạt nào hạt nấy căng mẩy, nặng trĩu hạt. Đứng từ xa nhìn lại, nó giống như một miếng vàng ròng khổng lồ đặt cạnh dòng sông đang cạn trơ đáy. Sự đối lập ấy khiến người ta vừa thèm khát lại vừa sợ hãi.

Lão Lý trưởng từng tuyên bố sẽ thu hồi mảnh ruộng ấy, giờ đây đứng chết trân trước bờ ruộng nhà nàng. Lão nhìn những hạt lúa vàng óng, căng mẩy, nặng trĩu đến mức uốn cong cả thân cây, trong khi ruộng nhà lão bên cạnh chỉ còn lại rơm rạ khô khốc.

“Tiểu Hà, ngươi dùng tà thuật gì vậy? Đất này là đất chết, sao có thể cho mùa màng thế này?”

Tiểu Hà dừng liềm, nàng đứng thẳng lưng giữa biển vàng rực rỡ, ánh nắng không làm nàng đen sạm mà như phủ lên nàng một lớp hào quang rực rỡ. 

Ta bình thản đáp: “Ta chỉ nói chuyện với đất, có lẽ là đất thương ta thôi.”

Nhưng con trai của lão lại dẫn theo mấy thanh niên trong thôn đến tận ruộng nhà ta. Hắn nhìn đám lúa tốt tươi một cách bất thường, mắt híp lại, định tiến vào xem xét, nhưng lạ thay, hễ ai bước chân định dẫm lên bờ ruộng nhà ta, đều bị trượt chân ngã nhào xuống nước hoặc bị những bụi cỏ sắc bén cứa vào chân đến chảy máu. Cuối cùng, bọn họ phải hậm hực ra về, vừa đi vừa lầm bầm về việc ta “nuôi quỷ trong nhà”.

Kể từ hôm đó, thái độ của dân làng hoàn toàn thay đổi. Những tiếng xì xào ác ý biến mất, thay vào đó là sự tò mò và kính cẩn. Khi Tiểu Hà mang những gùi lúa đầu tiên vào làng, thím bán đậu phụ từng chê nàng ám quẻ nay lại vội vàng chạy ra, tay bưng bát nước trà gừng nóng hổi, giọng điệu nịnh nọt.

“Tiểu Hà à, mệt rồi phải không? Vào đây uống bát nước đã. Ấy chết, để thím gánh giúp một đoạn, con gái con lứa sao lại làm việc nặng thế này.”

Đám trẻ con trước đây hát đồng dao chế giễu nàng, giờ lại ríu rít đi theo sau, đứa thì xin nhặt những hạt lúa rơi vãi, đứa thì tò mò muốn chạm vào tà áo của nàng để lấy vận may. Những người đàn ông lực điền trong làng vốn coi khinh kẻ yếu, nay hễ thấy nàng vác cuốc ra đồng là đồng loạt dừng tay, đứng thẳng lưng chắp tay chào một tiếng “Tiểu Hà cô nương”.

Đêm đó, sau khi thu hoạch mẻ lúa đầu tiên, ta mệt nhoài nằm ngủ trên sàn nhà tre. Trong cơn mơ màng, ta nghe thấy một tiếng thở dài rất khẽ. Tiếng nói ấy không truyền qua tai, mà như vọng lên từ dưới nền đất, trầm thấp, lạnh lẽo nhưng mang theo một chút vị thanh tao như mùi gỗ mục sau cơn mưa:

“Đừng gả cho tên thư sinh kia.”

Ta giật mình tỉnh giấc. Xung quanh chỉ có tiếng dế kêu và ánh trăng nhạt nhòa chiếu qua khe cửa.



Loading...