Ngọc Triền Chi - Hảo Đại Nhất Đĩnh Ngân

Chương 33


Chương trước Chương tiếp

🪷 Chương 33: Người chị dâu góa bụa yếu ớt dễ bắt nạt

🪷 Editor: Thảo Anh

Lời vừa dứt, bọn người Lận tam gia sững sờ trong chốc lát. Ông ta giật mí mắt, khi nhận ra Tô Ngọc Dung vừa nói gì, trên mặt ông ta không giấu nổi vẻ hưng phấn: “Lời này là tự ngươi nói đấy nhé!”

Tô Ngọc Dung khẽ đáp: “Vâng.”

Nàng biết, nếu nàng không chủ động, nhà họ Lận có hàng vạn thủ đoạn để tống khứ nàng đi. Hôm nay là dàn cảnh bắt gian, ngày mai thì sao? Liệu lần nào nàng cũng may mắn thoát được như hôm nay không?

Lận Đàn không còn, không ai bảo vệ nàng, nàng phải tự bảo vệ chính mình.

Thấy nàng đồng ý, Lận tam gia mừng rỡ ra mặt. Ả họ Tô này chủ động xin hoà ly thì tốt quá, đỡ tốn bao công sức mưu tính đuổi đi. Chuyện này cũng chẳng trách nhà họ Lận tham giàu phụ nghèo, cháu trai vừa nằm xuống đã vội bắt nạt góa phụ, mà là do chính Tô Ngọc Dung muốn hòa ly!

Gia sản của đại phòng, nàng đừng hòng chạm vào một xu!

Lận tam gia không dám chậm trễ, sợ chỉ chậm một lát là Tô Ngọc Dung sẽ hối hận. Ông ta nhìn sang Lận Chiêm, cái xác vừa được gia nhân khiêng đi nhưng mặt đất vẫn còn vương lại vũng máu đỏ lòm đến rợn người.

Gã đàn ông đó quả thực do ông ta sắp xếp để thông dâm với Tô Ngọc Dung. Họ đã tính toán kỹ thời gian để đến bắt gian tại trận, kết quả lại bị Lận Chiêm hồ đồ làm hỏng kế hoạch.

Đứa cháu này… Lận tam gia nhớ lại cảnh tượng lúc vừa đẩy cửa vào, lòng không khỏi rùng mình. Ông ta nhất thời chẳng còn can đảm nhìn thẳng vào Lận Chiêm, chỉ liếc vội qua một cái rồi thu hồi tầm mắt, cố ra vẻ uy nghiêm của bậc bề trên, bảo: “Thất lang, con hãy thay người huynh trưởng quá cố của con viết một phong thư hòa ly.”

Lận Chiêm không mảy may để ý đến ông ta. Hắn ngước mắt nhìn bóng dáng cô độc phía sau tấm bình phong, ngẩn người hồi lâu vì lời tẩu tẩu vừa nói.

Nàng muốn hòa ly với Lận Đàn? Hòa ly, nghĩa là không còn là phu thê nữa.

Khi thông suốt điều này, một cảm xúc khó tả bắt đầu len lỏi khắp tâm can hắn. Là kinh ngạc? Là mừng rỡ? Hay là hụt hẫng? Lận Chiêm không nói rõ được, tim hắn đập thình thịch, chưa kịp nghĩ thấu đáo thì đôi chân đã bước về phía sau tấm bình phong.

Tô Ngọc Dung đứng dậy, dược tính của thuốc mê vẫn chưa tan hết, nàng phải vịn vào bàn ghế mới chậm chạp bước ra được. Lúc thân hình nàng lảo đảo, Lận Chiêm đã xuất hiện bên cạnh, bóng dáng hắn che chắn hoàn toàn những vệt máu bắn tung tóe trên sàn.

Trong bóng tối, Tô Ngọc Dung ngập ngừng tựa nhẹ vào cánh tay hắn đưa ra, vững vàng bước khỏi phòng ngủ.

Nửa đêm, từ đường đèn đuốc sáng rực, người trong tộc họ Lận vây kín. Lận Chiêm thay bút, viết cho huynh trưởng và tẩu tẩu một phong thư hòa ly.

Trước bài vị của phu quân, Tô Ngọc Dung nắn nót từng nét, viết xuống tên mình rồi ấn dấu tay. Nét chữ này là do Lận Đàn dạy, giờ đây nàng dùng thứ chàng dạy để vẽ nên một dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân ngắn ngủi của hai người.

Thấy nàng biết chữ, những người xung quanh đều lộ vẻ kinh ngạc. Chữ của ả họ Tô viết không hề xấu, xem ra đã dày công luyện tập. Nhưng thế thì đã sao, chung quy vẫn là hạng thô kệch, không xứng đứng nơi thanh cao.

Thư hòa ly vừa viết xong, nàng và nhà họ Lận không còn bất kỳ quan hệ nào nữa.

Ngay khoảnh khắc Tô Ngọc Dung buông bút, Lận tam gia đã định sai người đuổi nàng đi ngay. Đã có thư hòa ly trong tay, ông ta chẳng cần phải giữ vẻ mặt tử tế với nàng nữa.

Viên Kỳ lúc này lại kéo kéo tay áo ông ta, nhỏ giọng khuyên nhủ: “Lão gia… dù sao cũng đã hòa ly rồi, chẳng nề hà gì mấy ngày này. Coi như tình nghĩa vợ chồng với Nhị lang, cứ để nó ở lại cho đến khi Nhị lang hạ táng rồi hãy đi.”

Lận tam gia quay lại lườm bà ta một cái, lạnh lùng quát: “Đúng là đàn bà, chỉ được cái yếu mềm, thiếu quyết đoán.”

Viên Kỳ cúi đầu cười nhạt: “Chỉ vài ngày thôi, chẳng vướng víu gì, thư hòa ly cũng ký rồi còn đâu.”

Lận tam gia hất tay bà ta ra. Mục đích đã đạt được, ông ta cũng chẳng muốn phí lời thêm.

Tô Ngọc Dung ký xong thư hòa ly, đến tâm trí để đối phó với bọn họ cũng chẳng còn. Nàng đứng dậy, bóng dáng liêu xiêu, chậm rãi bước ra khỏi từ đường. Gió đêm thổi qua, y phục mỏng manh dán chặt vào người, chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, vóc dáng nàng đã gầy sọp đi trông thấy.

“Tẩu tẩu.” Lận Chiêm đuổi theo sau.

“Đệ đừng đi theo ta.” Tô Ngọc Dung lầm lũi nói, cứ thế cắm đầu đi về phía trước. Cảm nhận được tiếng bước chân dồn dập phía sau, nàng nảy sinh một tia mất kiên nhẫn hiếm hoi, quay đầu lại: “Đã bảo là đừng… á!”

Lận Chiêm kịp thời nắm chặt lấy cánh tay nàng. Chân nàng vừa vấp phải đá, suýt chút nữa là nhào xuống hồ nước, khiến mặt nước bắn tung tóe. Lúc này Tô Ngọc Dung mới bừng tỉnh.

Lận Chiêm trầm giọng: “Sao đi đường không nhìn dưới chân, phía trước là hồ nước đấy.”

Tô Ngọc Dung cắn môi: “Xin lỗi… ta không để ý.” Trong lòng nàng trĩu nặng, tâm trí rối bời. Nàng cảm thấy mình như bị xẻ làm đôi, một nửa đã theo Lận Đàn đi mất, nửa còn lại bị quá nhiều chuyện lấp đầy, không còn chỗ để suy nghĩ gì khác.

“Tiểu thúc, đệ buông ra.” Tô Ngọc Dung nể nang lễ tiết, muốn rút tay về.

Hắn không những không buông, còn hỏi vặn lại: “Chẳng phải đã hòa ly rồi sao?” Đã hòa ly, không còn là tiểu thúc tử và tẩu tẩu nữa, còn quản mấy thứ quy tắc nhảm nhí đó làm gì.

Tô Ngọc Dung thấy vị tiểu thúc này lại nói sảng, vội giật tay về, lầm lũi chạy đi, sợ chậm một bước là cái miệng hắn lại thốt ra những từ ngữ kỳ quặc khiến nàng không thể chấp nhận được.

Nàng không dám về viện của mình ngủ vì nơi đó vừa có người chết, nàng sợ.

Bây giờ cứ nghĩ đến âm thanh lúc Lận Chiêm dùng nghiên mực đập vào đầu gã đàn ông kia là nàng lại rùng mình, da đầu tê dại. Dù linh đường có vẻ âm u đáng sợ hơn, lại có một cỗ quan tài lớn đặt đó, nhưng nàng chẳng hề thấy sợ, ngược lại còn cảm thấy trong cái Lận phủ rộng lớn này, đây là nơi duy nhất tạm thời cho nàng chỗ dung thân và khiến nàng an lòng.

Cứ nhìn thấy linh cữu lạnh lẽo là Tô Ngọc Dung lại muốn khóc. Nàng kìm nén nước mắt không để bật ra tiếng, ngồi tựa vào quan tài.

Hòa ly rồi, không còn là phu thê nữa. Nếu biết trước chàng sẽ chết cô độc nơi đất khách quê người, lúc đó nàng đã kiên quyết đi cùng chàng. Không còn phu quân che chở, nàng không thể sống nổi ở Lận gia, người trong tộc sẽ tìm đủ cách đuổi nàng đi, chi bằng tự mình chủ động rời khỏi. Lận Đàn chắc chắn sẽ không trách nàng đâu.

“Chàng đi bao nhiêu ngày rồi.” Tô Ngọc Dung nghẹn ngào: “Sao chẳng về báo mộng cho thiếp, chẳng lời từ biệt.”

“Sau này thiếp không thể đến thăm chàng được nữa, đợi chàng hạ táng xong, thiếp phải đi rồi.”

Sau lễ đầu thất, linh cữu Lận Đàn sẽ được đưa vào mộ tổ hạ táng, một người dưng như nàng không được phép đến tế bái. Nàng bốc một nắm tiền giấy, từng tờ từng tờ bỏ vào chậu lửa. Ánh lửa soi rõ gương mặt nàng, Tô Ngọc Dung khẽ nói: “Phu quân, trước khi đi đầu thai, hãy đến gặp thiếp một lần nhé.”

Linh đường tĩnh mịch, chỉ có tiếng than lửa nổ lách tách. Tô Ngọc Dung lau khô nước mắt trên mặt, tựa vào quan tài ngủ thiếp đi.

Lận Chiêm bước chân nhẹ nhàng, đi đến bên cạnh nàng rồi dừng lại. Ngay cả trong giấc mộng, đôi mày tẩu tẩu vẫn nhíu chặt, không cách nào thoát khỏi nỗi bi thương nặng nề ấy.

Lận Chiêm rủ mắt, lặng lẽ ngắm nhìn nàng. Ánh lửa chập chờn phản chiếu trong đôi mắt đen thẳm của hắn.

Huynh trưởng vừa mới mất, thi cốt chưa lạnh, ngay trước linh cữu của anh mình, Lận Chiêm nhìn người chị dâu vừa ký thư hòa ly, hoàn toàn mất đi thân phận “Lận nhị thiếu phu nhân”, yếu ớt đến mức không chịu nổi một cú thúc. Một ý niệm thầm kín như dây leo lặng lẽ nảy mầm, bò trườn lên quấn chặt lấy trái tim hắn.

Thực ra cũng chẳng hẳn là thầm kín, hắn biết mình đang nghĩ gì, và cũng chẳng buồn che giấu. Nếu có ai hỏi, hắn cũng sẽ thẳng thắn thừa nhận tâm tư nhơ nhuốc của mình đối với chị dâu góa.

Lận Chiêm cúi người, động tác cực kỳ nhẹ nhàng vì sợ làm phiền người phụ nữ đang ngủ. Hắn không định đánh thức nàng, cũng không làm gì quá giới hạn, chỉ đưa tay ra, cẩn thận vén lọn tóc rối xõa bên má nàng ra sau tai. Đầu ngón tay vô tình chạm vào làn da hơi nóng của nàng, hơi ấm ấy khiến tim hắn khẽ run rẩy. Hắn quyến luyến không rời, mãi không thu tay lại.

Hồi lâu sau, Lận Chiêm cởi áo bào ngoài của mình, nhẹ nhàng khoác lên đôi vai mảnh dẻ của Tô Ngọc Dung. Chiếc áo rộng mang hơi thở thanh khiết mà cô độc của thiếu niên bao phủ hoàn toàn lấy người phụ nữ. Lận Chiêm hài lòng nhìn cảnh tượng trước mắt.

Hắn cứ đứng đó bên cạnh nàng, dùng bóng dáng mình che chắn gió đêm lùa qua khe cửa, cũng ngăn cách những ánh nhìn dòm ngó có thể có từ bên ngoài linh đường.

Lận Chiêm ngước mắt nhìn cỗ quan tài lạnh lẽo chính giữa linh đường. Trong thoáng chốc, người anh đã khuất dường như đang đứng trước mặt, giận dữ trừng mắt nhìn hắn, kết tội tâm tư nghịch luân đê tiện trong lòng hắn.

Gương mặt Lận Chiêm không chút biểu cảm, thầm nói trong lòng: Vô ích thôi, huynh đã chết rồi, dù chưa chết cũng chẳng quản nổi ta.

Kể từ khi Tô Ngọc Dung hòa ly với Lận Đàn, kể từ khi Lận gia không còn chỗ cho nàng dung thân… Vậy thì từ nay về sau, đi hay ở, vui hay buồn của nàng, đều do hắn tiếp quản.

Cha chết con nối, anh mất em lấy, chị dâu vốn dĩ nên thuộc về hắn.

Chẳng biết qua bao lâu, Tô Ngọc Dung tỉnh dậy khi trời đã hửng sáng. Thấy chiếc áo bào khoác trên vai, nàng giật mình kinh hãi, nhìn quanh quất. Lận Chiêm đang quỳ phía xa, nhìn nàng: “Tẩu tẩu tỉnh rồi à?”

Tô Ngọc Dung vội vàng cởi chiếc áo trả lại cho hắn: “Ừm.” Nàng vịn vào bàn hương đứng dậy, ra ngoài rửa mặt cho tỉnh táo.

Những ngày sau đó, Lận phủ không gây rắc rối gì cho nàng nữa. Mãi đến ngày hạ táng Lận Đàn, Tô Ngọc Dung không khóc thêm lần nào. Nàng bình thản chịu tang, đưa tang, đợi chàng mồ yên mả đẹp. Nàng không thể vào khu mộ tổ của nhà họ Lận, chỉ có thể đứng đợi từ xa. Những tiếng khóc than vọng lại từ trên núi khiến tim nàng thắt lại, nàng bịt chặt miệng. Khi quan tài hạ huyệt, mọi thứ coi như chấm dứt.

Lận tam gia dường như sợ nàng sẽ đổi ý, sợ nàng ăn vạ ở lại sau khi cháu trai hạ táng, nên Lận Đàn vừa vào đất, ông ta đã lập tức đuổi Tô Ngọc Dung đi.

Mãi đến lúc này, Hạ Dao Đình mới biết chuyện Tô Ngọc Dung và Lận Đàn đã hòa ly.

“Nhị tẩu!” Nàng ấy không thể tin nổi mà đuổi theo, “Tẩu đi đâu?”

“Ta và Lận nhị công tử hòa ly rồi.” Tô Ngọc Dung khẽ nói, “Từ nay không còn liên can gì tới Lận phủ nữa.”

“Không được.” Hạ Dao Đình lắc đầu, “Sao có thể hòa ly? Tẩu là phận nữ nhi, một thân một mình không nơi nương tựa, sau này tẩu biết tính sao?”

Nhị tẩu tính tình yếu đuối, dễ bị bắt nạt, chồng không còn, nếu đến cả danh phận Nhị thiếu phu nhân cũng mất, nàng biết sống thế nào? Không cha không mẹ, cô độc lẻ loi, Hạ Dao Đình không thể tưởng tượng nổi. “Họ ép tẩu đúng không, sao tẩu có thể đồng ý!”

Trước sự gặng hỏi đầy kích động của Hạ Dao Đình, Tô Ngọc Dung lại tỏ ra rất bình thản, nàng nhẹ nhàng nói: “Ngũ đệ muội, trước khi gặp Lận Đàn, ta cũng chỉ có một mình.”

Hạ Dao Đình ngẩn người.

“Chẳng có gì là không sống nổi, cuộc sống một mình ta cũng quen rồi.” Tô Ngọc Dung mỉm cười nhàn nhạt, “Chàng ấy chắc chắn cũng muốn ta hòa ly. Chàng ấy sẽ không cam lòng để ta chịu uất ức ở đây. Trong lòng ta, tờ thư hòa ly đó chẳng là gì cả, chỉ là một tờ giấy lộn mà thôi, ta và chàng ấy vẫn là phu thê.”

Tay Hạ Dao Đình từ từ buông ra, hốc mắt đỏ hoe. Phải rồi, đàn ông chết là phải khóc lóc thảm thiết, không sống nổi nữa sao? Trước khi gặp Lận Đàn, Nhị tẩu một mình chẳng phải vẫn sống rất tốt đó sao?

“Nhưng mà…” Hạ Dao Đình còn muốn khuyên thêm, nhưng thấy Tô Ngọc Dung đã đang thu dọn hành lý. Đồ đạc của nàng rất ít, chỉ có một cái bọc nhỏ, bên trong là vài bộ quần áo cũ, cùng con dao mổ lợn đi theo nàng nhiều năm được bọc kỹ bằng vải. Những lụa là trang sức nàng không mang theo món nào, không phải nàng không muốn, mà là Lận phủ không cho mang đi.

Chỉ có vài món từ hồi ở Nhạn Bắc, đó là những ngày hạnh phúc nhất đời nàng, vợ chồng mới cưới nồng đượm ý vị, không có người ngoài xen vào, Lận Đàn chắt chiu đồng lương ít ỏi mua cho nàng áo mới, trang sức mới… những thứ này thuộc về vợ chồng nàng, không thuộc về Lận gia.

“Nhị tẩu!” Nước mắt Hạ Dao Đình cuối cùng cũng rơi xuống. Nàng ấy biết, Tô Ngọc Dung đi chuyến này, e là đời này khó lòng gặp lại.

“Ngũ đệ muội.” Tô Ngọc Dung nhìn nàng ấy, “Cảm ơn muội, cảm ơn muội đã làm bạn với ta, bấy lâu nay luôn chăm sóc ta, dạy ta rất nhiều điều. Ở kinh thành lâu như vậy, vì có người bạn như muội mà ta thấy rất vui.”

Hạ Dao Đình thút thít, nành ấy vốn cao ngạo, chẳng coi ai ra gì, vậy mà gương mặt xinh đẹp rạng rỡ lúc này lại khóc đến lem nhem, nước mắt nước mũi không ngừng tuôn rơi. “Nhị tẩu… ta… ta cũng rất vui vì có người bạn như tẩu.”

Tô Ngọc Dung khẽ cười, tiến lên dùng khăn lụa lau mặt cho Hạ Dao Đình: “Đừng khóc nữa, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, dù đi đâu ta cũng sẽ nhớ người bạn này.”

“Sau này tẩu định đi đâu?” Giọng Hạ Dao Đình nghẹn ngào, nắm chặt tay nàng.

Tô Ngọc Dung im lặng, rủ mắt, gương mặt thoáng hiện vẻ đau thương: “Ta muốn… đến Lật Thành trước, đến nơi cuối cùng chàng ấy ở để nhìn một cái.” Nghe nói nạn lụt ở Lật Thành đã dứt, đó là công lao của chàng, chỉ là chàng không còn nữa. Tô Ngọc Dung sụt sịt: “Sau đó sẽ từ Lật Thành trở về quê hương.” Lại kinh doanh tiệm thịt nhỏ như trước đây.

Hạ Dao Đình không nói gì thêm, lúc này lời nói đều trở nên vô lực. Nàng ấy tháo chiếc vòng tay đang đeo ra: “Nhị tẩu, đường xá xa xôi, ta chẳng có gì cho tẩu, chiếc vòng này tẩu cầm lấy, chắc cũng đổi được nhiều tiền.”

“Không được…” Tô Ngọc Dung không chịu nhận, Hạ Dao Đình khóc lóc làm mình làm mẩy, ép bằng được chiếc vòng vào tay nàng. Thấy vậy, Tô Ngọc Dung đành nhận lấy. Hai người nói chuyện thêm một lúc thì Hạ Dao Đình bị gọi về, nàng ấy lưu luyến nhìn Tô Ngọc Dung, cứ đi một bước lại ngoảnh đầu lại ba lần.

“Về đi thôi.” Tô Ngọc Dung vẫy tay. Hạ Dao Đình đẫm lệ bước vào cổng phủ.

Trước khi khởi hành, Tô Ngọc Dung ghé qua gian viện nhỏ lúc trước, giải tán đám nô bộc trong nhà. Hàng xóm láng giềng biết nàng đi đều rất luyến tiếc. Tội nghiệp quá, còn trẻ thế đã mất chồng. Mọi người đều không phải hạng giàu sang, chỉ là dân thường, một đồng bẻ đôi để tiêu, nhưng lúc này đều vây lại: “Tô nương tử, đây có hai quả trứng gà, cô mang theo ăn dọc đường.”

“Lát nữa tôi đi thịt gà, cô uống chút canh đi, xem cô gầy đi bao nhiêu kìa.”

Tô Ngọc Dung hoảng hốt: “Không cần, không cần đâu ạ.” Một quả trứng ra chợ bán được mấy văn tiền, hàng xóm còn chẳng nỡ ăn.

“Trước đây cô cũng giúp đỡ chúng tôi nhiều mà! Hồi A Lang bị đau đầu, là cô giúp mời đại phu.”

“Đúng thế đúng thế! Năm nay mất mùa, ruộng không có thóc, là cô bảo gia nhân mang gạo mì sang nhà tôi mới không bị đói!”

“Kìa, thật sự không cần đâu.” Tô Ngọc Dung đỏ mặt từ chối, nhưng mọi người quá nhiệt tình, nàng phải hết lời khước từ thì người hàng xóm mới không đi giết con gà đã nuôi mấy năm. Tuy nàng chỉ ở đây hai tháng, nhưng mọi người đã mang lại cho nàng sự ấm áp mà nàng chưa từng cảm nhận được ở chốn hào môn.

Sau khi Tô Ngọc Dung rời đi, hàng xóm tụ tập trong ngõ, nhìn bóng lưng nàng xa dần, không nén nổi tiếng bàn tán.

“Lận gia đúng là thất đức, trước thì đuổi hai vợ chồng ra khỏi nhà, giờ Lận đại nhân vừa mất, họ đã vội vã hưu thê!”

“Thì là tham giàu phụ nghèo, bắt nạt Tô nương tử từ nơi nhỏ bé tới chứ sao!”

“Chắc là vội vàng chiếm đoạt gia sản của cháu trai đây mà.”

“Hừ, đồ mặt dày!”

Tô Ngọc Dung bái biệt Lữ công và vài vị đồng liêu cũ của Lận Đàn, vào một ngày đầu tháng Mười, nàng ngồi xe bò rời đi.

Lão nông thấy nàng khoác bọc đồ, lại hỏi như mấy lần trước: “Lại đi đưa đồ cho tiểu thúc à?”

Tô Ngọc Dung lắc đầu: “Dạ không, lần này cháu đi tìm phu quân.”

Lão nông vung roi: “Nhà mình vẫn chưa về sao?”

Tô Ngọc Dung rủ mắt, ánh mắt u ám: “Dạ chưa.”

Sợ mình lại nghĩ ngợi rồi khóc, nàng vội tìm chuyện để đánh lạc hướng, chỉ tay về phía xa: “A Công, ông cứ đưa cháu đến chỗ đó thả xuống là được, ở đó có một trạm dịch.”

“Được rồi.”

Tô Ngọc Dung định đến trạm dịch phía trước thuê một chiếc xe. Nàng chưa từng đến Lật Thành, chẳng biết đi hướng nào, lát nữa đến trạm dịch sẽ hỏi người ở đó. Những ngày qua nàng kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, hao tổn quá nhiều tâm lực. Ở Lận gia, dù có giường êm gối ấm hầu hạ, nàng cũng không ngủ được, trằn trọc suốt ngày đêm. Lúc này ngồi trên xe bò, lắc la lắc lư, tựa vào đống rơm, ôm bọc đồ trong lòng, nàng lại ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Lão nông đánh xe bò, lững thững đi trên đường. Sắp đến trạm dịch, bên đường có một thiếu niên, đôi mắt nhìn chằm chằm về hướng họ. Lão nông ngơ ngác nhìn hắn: “Cậu là nhà cô ấy à?”

Thiếu niên không đáp, nhìn cô gái đang ngủ trong đống rơm.

Tô Ngọc Dung được lão nông gọi tỉnh. “Cô nương, nhà cô đến đón cô này.” Lão nông dẫu đã chở nàng vài lần, nhưng lần nào đến cổng thư viện Bạch Lộc lão cũng chỉ dừng bên đường, chưa từng nhìn về hướng thư viện, nên không biết vị tiểu thúc mà nàng hay đến thăm trông như thế nào. Nàng bảo đi tìm chồng, khi xe bò đến trạm dịch, có một thiếu niên trạc tuổi nàng bước tới, lão tự nhiên nghĩ đó là người chồng nàng định đến nương tựa.

Tô Ngọc Dung ngẩng đầu, nhìn theo hướng tay lão nông chỉ, cả người lập tức tỉnh táo hẳn. Trong ánh ban mai mờ ảo, Lận Chiêm đứng thẳng tắp, lặng lẽ chờ đợi một bên. Hắn mặc một bộ trường bào màu xanh thiên thanh, chất vải giản dị, không có hoa văn cầu kỳ, chỉ có cổ áo và tay áo thêu vài khóm trúc bằng chỉ bạc. Mái tóc đen nhánh của thiếu niên chỉ buộc bằng một dải lụa đơn giản, vài lọn tóc rối bay phất phơ trước trán và gò má. Dáng người hắn hiên ngang như trúc xanh, bàn tay cầm dây cương xương xẩu rõ ràng. Chỉ cần đứng yên đó, quanh người hắn đã tỏa ra một khí chất thiếu niên đậm mùi sách vở.

Tô Ngọc Dung ngẩn ngơ một lát. Nàng đã thấy quá nhiều dáng vẻ cô độc lạnh lùng của tiểu thúc, hắn luôn xa cách người khác, tâm tính lạnh lẽo. Nhưng lúc này, Lận Chiêm đứng trước mặt lại thanh tú và cao quý đến lạ thường, dường như thiếu niên hung tàn dùng nghiên mực đập nát đầu kẻ gian trong đêm tối vài ngày trước chỉ là ảo giác của nàng.

“Tiểu thúc?” Tô Ngọc Dung sững sờ, vội vàng bước xuống xe bò, “Đệ… sao đệ lại ở đây?”

Ánh mắt Lận Chiêm bình thản dừng trên người nàng, ngắn gọn súc tích: “Cùng tẩu đi Lật Thành.”

“Cùng đi?” Tô Ngọc Dung càng kinh ngạc hơn, lập tức từ chối, “Làm sao được! Đệ đừng có làm loạn, mau quay về đi!”

“Không phải làm loạn.” Giọng Lận Chiêm thản nhiên, “Ta đã quyết định rồi, cũng đã nói với Tam thúc rồi.”

Thực ra hắn chẳng nói gì cả, hắn chỉ bảo mình muốn vào núi đọc sách cho thanh tĩnh, Lận tam gia không chút nghi ngờ, vui vẻ đồng ý. Bây giờ Lận Đàn đã chết, trong tộc tự nhiên coi Lận Chiêm vừa đỗ Giải nguyên như báu vật, mong hắn đỗ Trạng nguyên để làm rạng danh tổ tông. Nhân tiện trước khi đi, Lận Chiêm còn cuỗm được một đống tiền bạc từ chỗ Lận tam gia, đủ để chi tiêu cả quãng đường dài.

“Sao đệ biết ta định đi Lật Thành?”

Lận Chiêm cũng rất thản nhiên, nhìn thẳng vào nàng: “Hôm đó tẩu và Ngũ tẩu từ biệt trong sân, ta đã nghe thấy.”

“Đệ…” Tô Ngọc Dung nhất thời nghẹn lời, nàng trấn tĩnh lại, cố dùng giọng điệu của bề trên để khuyên nhủ: “Thất đệ, đệ đừng có bốc đồng. Đệ còn phải thi cử nữa, sao có thể bôn ba vất vả thế này? Đệ bây giờ là tân khoa Giải nguyên, tiền đồ xán lạn, kỳ thi sắp tới quan trọng nhường nào! Mau quay về chăm chỉ đọc sách đi!”

Nàng cảm thấy lời này của mình thấu tình đạt lý, không thể bắt bẻ được. Dù không còn là con dâu nhà họ Lận, nhưng trong mắt nàng, Lận Chiêm vẫn là em trai của chồng nàng. Dẫu vị tiểu thúc này từng nói những lời kỳ quặc, nhưng nàng cứ coi như chưa nghe thấy. Phu quân qua đời, nàng nhìn tiểu thúc càng thấy hắn giống như một di vật mà phu quân để lại, nàng cần phải chăm sóc tử tế. Cái tinh thần trách nhiệm của người chị dâu lại trỗi dậy, nàng tự nhủ tuyệt đối không thể để hắn làm bậy.

Lận Chiêm lại bảo: “Đọc sách ở đâu chẳng giống nhau, qua năm sau về kinh dự thi là được.”

Tô Ngọc Dung cạn lời, đúng là chẳng thể nói lý với đám người chữ nghĩa đầy mình này. Nàng khổ tâm khuyên giải: “Đệ đã gọi ta một tiếng tẩu tẩu, ta không thể giương mắt nhìn đệ bỏ bê học hành được. Nếu không… nếu không đại ca đệ dưới suối vàng biết chuyện, chắc chắn sẽ trách ta không trông nom chú tử tế.”

Nàng lôi người chồng đã khuất ra, tiểu thúc không nghe lời nàng thì cũng phải nể mặt huynh trưởng chứ.

Lận Chiêm nghe vậy thì bật cười. Hắn thầm cười lạnh trong lòng: Lận Đàn nếu thật sự dưới suối vàng biết chuyện, chắc chắn sẽ báo mộng chửi rủa đứa em có dâm tâm với chị dâu góa này một trận lôi đình trước, chứ hơi đâu mà quản chuyện học hành tiền đồ.

Gương mặt Lận Chiêm không lộ chút biểu cảm, chỉ tiến lên một bước, thu hẹp khoảng cách với Tô Ngọc Dung: “Tẩu tẩu, tẩu quên rồi sao? Tẩu đã hòa ly với huynh trưởng của ta, tẩu không còn là người nhà họ Lận nữa. Tiền đồ học hành của ta, tự nhiên chẳng cần tẩu phải gánh vác trách nhiệm gì.”

Hắn khựng lại một chút, nhìn dáng vẻ vừa cuống vừa giận mà không nói nên lời của nàng, tiếp tục bảo: “Còn về huynh trưởng… huynh ấy nếu có linh thiêng, nhìn thấy tẩu cô độc một mình mới thật sự là không thể yên nghỉ.”

Hắn nói năng bài bản trôi chảy, Tô Ngọc Dung muốn phản bác mà chẳng biết bắt đầu từ đâu.

Lão nông đánh xe bò đang đỗ gần đó, ánh mắt dò hỏi nhìn sang. Thiếu niên thì không sao, vẫn thản nhiên, chỉ có cô bé kia mặt đỏ tía tai như đang tức giận. “Chà, đôi vợ chồng trẻ chắc xa nhau lâu quá nên tích tụ oán khí, vừa gặp là cãi nhau.” Lão không nhịn được lên tiếng: “Vợ chồng trẻ có gì thì nói rõ ra là được, đừng cãi nhau mà.”

Tô Ngọc Dung nghe vậy, mặt càng đỏ bừng hơn. Sực nhớ mình chưa trả tiền, nàng chẳng buồn để ý đến Lận Chiêm nữa, bước tới lấy một xâu tiền đồng đưa cho lão nông: “A Công, cảm ơn ông đã chở cháu.”

“Vợ chồng thì phải hòa thuận, đừng cãi cọ.”

Nàng vội giải thích: “Dạ không phải đâu, chúng cháu không phải vợ chồng…”

Lão nông lộ ra vẻ mặt “tôi hiểu mà, tôi hiểu mà”, vẫy tay rồi đánh xe bò đi xa.

Tô Ngọc Dung thở dài, quay đầu lại: “Đệ mau về đi, tiền đồ là quan trọng nhất.”

Lận Chiêm không hề quay người đi như nàng mong muốn. Hắn mím môi, khóe miệng bỗng nhếch lên một nụ cười tự giễu. “Tiền đồ?” Hắn lẩm bẩm: “Tẩu tẩu tưởng hạng người như ta thật sự có cái gọi là tiền đồ sao?”

Tô Ngọc Dung ngẩn ra: “Cái gì cơ?”

Hắn quay đầu lại nhìn nàng với ánh mắt u oán, giọng điệu yếu ớt chưa từng thấy: “Cái nhà đó có bao giờ có chỗ cho ta đứng đâu? Từ nhỏ đến lớn, ta giống như một miếng giẻ rách đáng ghét. Mẹ không thích ta, sau khi bà mất, ta bị nhà họ Tôn ném trả lại. Ta cứ ngỡ mình có người thân, sẽ được yêu thương, nhưng người trong tộc coi ta là vật không lành, cha chỉ mong ta chết quách đi cho xong. Nếu không có huynh trưởng liều mình bảo vệ, ta đã bị dìm xuống ao từ lâu, xương cốt chẳng còn rồi.”

Hắn dừng lại, âm cuối hơi run rẩy nhưng nhanh chóng bị hắn nén xuống, càng khiến thiếu niên có vẻ nhẫn nhịn và uất ức: “Khi huynh trưởng còn, trong phủ ta vẫn còn một góc nhỏ để tránh gió mưa. Bây giờ huynh trưởng đi rồi, Lận phủ rộng lớn kia chẳng qua chỉ là một cái lồng chứa đầy sự giả dối và toan tính, mà ta chỉ là một con rối để họ kiếm về vinh quang mà thôi. Ai thèm để ý ta nghĩ gì, ai quan tâm ta nóng hay lạnh?”

Lận Chiêm ngước mắt, nhìn thẳng vào đôi mắt hơi mở to vì kinh ngạc của Tô Ngọc Dung, nơi phản chiếu rõ ràng bóng hình cô độc không nơi nương tựa của hắn lúc này. “Tẩu tẩu, tẩu đừng giận.” Giọng hắn càng nhỏ hơn: “Ta về là được chứ gì. Dù sao… bị người ta xua đuổi, ta cũng quen rồi.”

Nói xong, hắn quả thực bước đi, làm bộ định bỏ đi thật. Bóng lưng hắn dưới ánh bình minh mờ ảo trông thật mảnh dẻ và cô quạnh.

“Đợi đã!” Tô Ngọc Dung gần như thốt ra theo bản năng.

Bước chân Lận Chiêm dừng lại ngay lập tức, nhưng hắn không quay đầu ngay. Trái tim Tô Ngọc Dung như bị một bàn tay vô hình bóp chặt, vừa xót vừa đắng. Nàng vốn là người yếu lòng, lớn chừng này chưa từng nói nặng lời với ai quá vài câu. Những lời vừa rồi của tiểu thúc từng chữ từng câu đều như cái dùi đâm vào tim nàng.

Nàng nhớ tới bản thân mình, vừa sinh ra đã bị cha mẹ ruột coi là đồ bỏ đi, mấy lần suýt bị dìm chết. Cái cảm giác bị người thân chán ghét, bị xua đuổi, nàng hiểu quá rõ. Nhìn bóng lưng thẳng tắp nhưng không giấu nổi vẻ hụt hẫng của thiếu niên, nàng như nhìn thấy một bản thân khác đang lầm lũi đi giữa thế gian.

Phải rồi, hắn tuy mang huyết thống nhà họ Lận, nhưng tình cảnh của hắn liệu có tốt hơn nàng là bao? Nàng chẳng phải đã thấy họ ngó lơ hắn thế nào sao. Bây giờ người anh duy nhất không còn, còn ai quan tâm đến hắn nữa.

Tô Ngọc Dung vê vạt áo, lưỡng lự không quyết. Nàng thực sự không đành lòng đuổi hắn về nhà. Hồi lâu sau, nàng hít một hơi thật sâu. Nàng vốn là hạng người mềm yếu dễ bị người ta dắt mũi, dù có quyết tâm đến mấy cũng chẳng thể nói ra những lời sắt đá.

“Thôi… ai bảo đệ là em trai của Lận Đàn chứ.” Tô Ngọc Dung khẽ nói: “Đã là tẩu tẩu của đệ, tự nhiên ta không thể bỏ mặc đệ được. Chỉ là đệ phải chăm chỉ học hành, không được bỏ bê. Năm sau phải thi đỗ hạng cao mới xứng với linh hồn huynh trưởng trên trời.”

Lận Chiêm quay lưng về phía nàng, khóe môi nhếch lên một nụ cười nhạt không ai thấy. Vị tẩu tẩu này của hắn đúng là yếu ớt dễ bắt nạt, lòng mềm như bông, chỉ cần nói vài câu ngon ngọt dỗ dành là dẫu nàng có nể nang điều gì cũng không nỡ từ chối. Cuối cùng lại bán tín bán nghi, để mặc người ta muốn làm gì thì làm. Một mặt thì rơi lệ, một mặt lại chẳng nỡ đẩy kẻ xấu xa đi, cứ thế ngơ ngác mở lòng đón nhận, dù tốt hay xấu đều nhận hết.

“Đa tạ tẩu tẩu.” Hắn quay người lại nhỏ giọng nói, ngữ khí vô cùng thành khẩn.

Tô Ngọc Dung nhìn hắn, lòng dạ ngổn ngang, cuối cùng khẽ thở dài: “Đi thôi, chúng ta cần tới trạm dịch thuê xe.”

“Ừm.” Lận Chiêm đi theo nàng, “Tẩu tẩu, để ta đeo đồ cho.” Tô Ngọc Dung đành buông tay, để hắn gỡ cái bọc trên vai mình xuống. Hai người giữ một khoảng cách đúng mực, rời khỏi ven đường đi về hướng trạm dịch.

Đến Tết Trùng Cửu, mưa ở Lật Thành mới tạnh hẳn. Những dòng sông sạt lở và nhà cửa đổ nát vẫn minh chứng cho trận thiên tai thảm khốc trước đó.

Người đàn ông bị dòng nước đánh dạt vào bờ mình đầy thương tích, áo quần rách mướp. Chàng nằm bất động trên phiến đá, xung quanh là lũ kền kền ngửi thấy mùi thịt thối, chúng bay lượn vòng quanh trên không trung với ánh mắt thèm thuồng, dường như chỉ chờ người đàn ông tắt thở là sẽ lập tức lao xuống rỉa xác.

Dòng sông chảy qua Lật Thành chia làm nhiều nhánh, đổ ra muôn nơi. Chẳng ai biết một nhánh nước nào đó cuối cùng sẽ trôi về phương nào, cũng chẳng ai hay dòng suối chảy qua trước cửa nhà mình lại bắt nguồn từ đâu.

Đang định xuống sông giặt giũ, một người phụ nữ nông dân tên là Ngô thị bỗng thấy một mảnh áo rách trôi theo dòng nước đến trước mặt. Bà đứng dậy, đi dọc bờ sông ngược lên thượng nguồn, gạt cỏ ra nhìn thấy một người đang nằm sấp trên đá thì giật mình kinh hãi. Người đó người đầy máu, áo quần rách nát đến mức không còn nhận ra màu sắc ban đầu, sau gáy máu vẫn đang rỉ ra ướt sũng, phiến đá cũng đã thấm một vệt máu lớn. Ngô thị vừa nhìn thấy đã khiếp vía, mấy người phụ nữ giặt đồ cùng bà cũng hoảng sợ không kém.

“Ối giời ơi chết người rồi!” Nghe nói vùng phía Tây dạo trước lụt lội chết nhiều người lắm, mấy làng quanh đây thỉnh thoảng lại nhặt được xác chết trôi dạt về. Đa phần đều đã bị ngâm nước đến trương phình như quả bóng, mùi hôi thối nồng nặc, chạm vào có khi còn nổ tung. Có cái thì sứt tay gãy chân, chết thảm vô cùng, trông thật đáng thương. Dân làng đa phần thiện lương, thấy vậy đều giúp khiêng đi. Những xác chết đó đã biến dạng hoàn toàn, dù cha mẹ ruột có đến cũng chẳng nhận ra là ai. Những xác chết không người nhận, dân làng sẽ khiêng lên núi phía sau, tìm một nơi chôn cất cho họ mồ yên mả đẹp.

Vì thế, thấy người nằm trên đá, ý nghĩ đầu tiên của mọi người là: Lại một kẻ khốn khổ bị lũ cuốn trôi về. Ngô thị bảo: “Ôi, đi gọi người tới khiêng đi thôi, chôn sớm cho người ta yên nghỉ.”

“Tội nghiệp quá, dạo này trôi về bao nhiêu người chết rồi.”

Chồng Ngô thị là thợ mộc trong làng, sức dài vai rộng lại nhiệt tình. Bà nhờ người phụ nữ khác trông hộ chậu gỗ rồi chạy về làng gọi chồng mình ra, thêm hai gã thanh niên lực lưỡng cũng đi theo ra bờ sông.

“Ở đâu thế?”

“Đằng kia, đằng kia kìa.” Ngô thị dẫn mọi người tới, “Vừa mới thấy xong.”

Vẫn chưa bị trương phình. Vương thợ mộc xắn tay áo, vẫy vẫy tay, mấy gã đàn ông cùng tiến lên. Người trên đá bất động. Vương thợ mộc đi chân trần xuống nước, cúi người nhấc cái xác lên, người khác khiêng chân, người khác đỡ eo. Xác người nặng, lại khó bám, thường phải hai ba người mới khiêng đi được. Bên bờ có chiếc xe kéo cỏ của bò, họ đặt cái xác lên đống cỏ. Vương thợ mộc phủi tay: “Đi thôi, kéo lên núi.”

Ngô thị nhìn chồng và mấy gã đàn ông kéo cái xác đi, bỗng sắc mặt thay đổi, chớp chớp mắt: “Không đúng, sao vừa nãy tôi thấy ngón tay người ta cử động nhỉ.”

Vương thợ mộc chẳng buồn ngoảnh đầu: “Không thể nào, bấy lâu nay trôi về làng mình chẳng có ai còn sống cả.”

“Thật mà!” Ngô thị trừng mắt, “Tôi thật sự thấy ngón tay người ta cử động mà!”

Nghe vậy, mọi người đều dừng lại. Vương thợ mộc nghi hoặc ngoảnh đầu nhìn người đàn ông nằm trên đống cỏ. Mặt chàng đầy máu, tóc bết chặt vào mặt. Lúc nãy khiêng thấy cánh tay nhũn ra, chắc là gãy rồi, trên tóc máu vẫn đang rỉ ra lách tách, chắc là đập đầu vào đâu đó, nhìn kiểu gì cũng chẳng giống người còn sống.

Nhưng Ngô thị lại hét lên: “Ngón tay lại động kìa!”

Lần này Vương thợ mộc cũng nhìn thấy, mắt trợn trừng: “Trời đất ơi, động thật kìa, hay là xác chết vùng dậy đấy.”

“Người này chưa chết sao?”

“Vẫn còn một hơi thở!”

Mọi người nhao nhao bàn tán: “Mau kéo đến chỗ đại phu đầu làng xem sao.”

“Nhanh lên, nhanh lên!”

Mấy gã đàn ông vội vàng kéo xe đi, không dám chậm trễ thêm nữa. Một người kéo phía trước, hai người vịn hai bên để tránh chạy nhanh quá người trên xe bị lăn xuống.

Vị đại phu chân trần ở đầu làng vốn là y sư chữa bệnh cho người, nhưng ở trong cái làng này, ông chỉ toàn chữa cho trâu bò dê ngựa. Bởi lẽ dân làng chẳng nỡ bỏ tiền ra khám bệnh, hễ ốm là ráng chịu, chịu không nổi mới chịu uống thuốc, nhưng lúc đó cũng gần đất xa trời rồi. Trái lại, trâu bò là cuống phổi của nông dân, hễ trâu bò đổ bệnh là họ lo hơn bất cứ ai.

Đại phu hiếm khi gặp người sống đến chữa bệnh, vốn đang hào hứng, nhìn qua một cái rồi mắng: “Còn đúng một hơi thở mà cũng kéo tới đây? Chôn thẳng đi cho rồi.”

“Kìa, ông cứ xem thử đi, tội nghiệp lắm, chẳng biết từ đâu trôi về làng mình, còn giữ được một hơi thở là mạng lớn rồi. Ông cứ chữa xem, biết đâu người này mạng cứng lại sống thì sao?”

Đại phu hừ lạnh, xem xét qua loa vài cái rồi bảo: “Cánh tay gãy, chân gãy, xương sườn cũng gãy ba cái, trong đó có một cái suýt đâm vào tim. Sau gáy còn sưng một cục to thế này, máu bầm to bằng nắm tay tôi, sống được mới là lạ! Thôi, cho nó uống ít thuốc mạnh dành cho gia súc, sống chết do trời!”



Loading...