Ngọc Triền Chi - Hảo Đại Nhất Đĩnh Ngân

Chương 31


Chương trước Chương tiếp

🪷 Chương 31: Chàng đã chết rồi

🪷 Editor: Thảo Anh

Trận mưa ròng rã suốt hai tháng trời cuối cùng cũng tạnh vào buổi sớm mai ngày Tết Trùng Cửu. Nước sông cuồn cuộn chảy xiết, tựa như loài mãnh thú hung tợn lồng lộn băng qua dưới chân núi.

Binh lính đội nón lá, đi dọc theo bờ sông gào gọi tên chàng, nhưng trong lòng ai nấy đều hiểu rõ: những tiếng gọi này vĩnh viễn sẽ không có lời hồi đáp.

Đêm qua đê vỡ, cũng may Lận Đàn kịp thời phát giác, thức trắng đêm dẫn người đi khảo sát, những chỗ rò rỉ đều được khẩn cấp đắp vá bồi thêm, nhờ vậy mới không dẫn tới đại họa thảm khốc hơn.

Một đêm trôi qua, gió lặng sóng dừng. Trận thiên tai tưởng chừng hủy thiên diệt địa trong đêm mưa đã thoái lui, gió đi không để lại dấu vết, chỉ còn những dòng nước đục ngầu bắn tung tóe bên bờ, như vẫn đang chứng minh cho sự tàn khốc của đêm qua.

Lận đại nhân bị dòng nước xoáy cuốn đi, thi cốt không còn.

Hàng năm vào mùa lũ lụt, có biết bao người mất tích không một tin bận. Lúc lũ quét bùng phát, hễ ai bị cuốn đi mà còn được sóng đánh dạt vào bờ để giữ lại toàn thây đã là đại phúc, bằng không sẽ bị bùn cát vùi lấp, vĩnh viễn nằm sâu dưới lòng đất lạnh lẽo, đến một mảnh di hài cũng chẳng thể tìm thấy.

Lận Đàn chính là trường hợp sau.

Binh lính tìm khắp cửa đê vỡ, rồi lại xuôi theo dòng nước xiết tìm đến những nơi khác, nhưng sông rộng mênh mông, dọc ngang Nam Bắc, một thân xác nhỏ bé biết trôi dạt về phương nào?

Giữa tháng Chín, các quan lại ở Lật Thành xác nhận Lận Đàn đã tử nạn. Dẫu đau đớn khôn cùng nhưng chuyện đã không thể vãn hồi, họ đành gửi thư về kinh, báo tang lên triều đình. Đường xá xa xôi, ngựa trạm phi nước đại, tầm bốn năm ngày là tin dữ sẽ truyền tới nơi.

Sau Tết Trùng Cửu là ngày yết bảng. Tô Ngọc Dung còn lo lắng hơn cả mẹ đẻ, nàng sai người túc trực ngoài Cống viện đợi bảng dán lên. Buổi sáng, nàng đặc biệt ra ngôi chùa ngoại thành thắp một nén hương, cầu Phật tổ phù hộ cho tiểu thúc trúng tuyển; buổi chiều lại tới Tĩnh Thiện Quán, cầu Văn Xương Đế Quân độ cho tiểu thúc đỗ cao.

Ngay cả hang cáo ven đường nàng cũng ghé vào vái lạy, cầu xin các vị thần tiên hiển linh giúp đỡ.

Nhìn dáng vẻ sốt sắng của tẩu tẩu, lòng Lận Chiêm lại bình lặng lạ thường, thậm chí hắn còn muốn bật cười. Trên đời này, e là chỉ có Tô Ngọc Dung mới dốc lòng lo lắng cho hắn đến vậy.

So với Lận Chiêm, Lận phủ quan tâm hơn đến việc đệ đệ của Hạ Dao Đình thi cử thế nào, thậm chí một số bậc bề trên trong nhà còn chẳng biết Lận Chiêm có đi thi thu năm nay hay không.

Thấy Lận Chiêm ngồi bên cạnh vẻ mặt thản nhiên, Tô Ngọc Dung đang đi tới đi lui bèn dừng lại hỏi: “Tiểu thúc, đệ không thấy căng thẳng sao?”

Lận Chiêm đáp: “Cũng bình thường.”

Tô Ngọc Dung lại bắt đầu đi vòng quanh sân, miệng lẩm bẩm: “Lạ thật, có phải ta đi thi đâu mà sao ta lại run thế này.”

Có lẽ đây chính là tinh thần trách nhiệm của một người chị dâu!

Hồi ở Nhạn Bắc, tính cách Tô Ngọc Dung cũng mềm yếu, chẳng thích va chạm với ai. Thế nhưng hễ có tên lưu manh nào cố ý quấy nhiễu xóm giềng, nàng lại là người đứng ra đầu tiên, cầm dao mổ lợn đuổi đánh hắn chạy tóe khói. Dù mỗi lần như thế nàng đều sợ đến phát khóc, khiến tên lưu manh vừa chạy vừa kinh hãi nhìn nàng: “Cô cầm dao chém tôi, tôi còn chưa khóc mà sao cô khóc dữ vậy?”

Tô Ngọc Dung cũng không biết tại sao, nàng chỉ muốn khóc thôi. Nàng vừa sợ, vừa thấy mình cần phải đứng ra.

Hiện giờ cũng vậy, vì phu quân vắng nhà nên với tư cách là tẩu tẩu, nàng phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc tiểu thúc. Nàng coi mình như chủ một gia đình, tự nhiên phải dốc lòng vì chuyện của Lận Chiêm.

Ngoài Cống viện người đông như kiến. Hạ Dao Đình chống nạnh, cố sức kiễng chân ngóng trông. Ngay khi bảng vàng vừa dán lên, nàng ấy lập tức ra lệnh cho tiểu sai xông lên hàng đầu.

“Ta nói cho đệ biết, nếu đệ không thi đỗ ra hồn, xem ta và mẹ có đánh chết đệ không.”

Hạ Dao Đình lườm đứa em trai bên cạnh. Hạ Lục Lang rủ mắt, nhỏ giọng kêu ca: “Đệ mới mười lăm tuổi, tỷ làm gì mà vội thế!”

Mười lăm tuổi quả thực còn rất nhỏ, nhưng chẳng còn cách nào khác. Con trai của di nương đã đỗ cử nhân, cậy vào chút công danh đó mà cả ngày ở nhà diễu võ dương oai. Cha của Hạ Dao Đình lại là hạng người “sủng thiếp diệt thê”, nếu con đích không tranh khí thì sau này nhất định bị đám con thứ kia đè đầu cưỡi cổ.

Nàng ấy lạnh lùng cười: “Người sống vì hơi thở, đệ mà bị mấy đứa con thứ kia vượt mặt thì sau này một xu gia sản cũng đừng hòng chạm tới!”

Hạ Lục Lang mím môi, không dám cãi lại.

Hồi lâu sau, tiểu sai mới len lỏi được ra khỏi đám đông, mặt mày hớn hở: “Nhị cô nương, Lục công tử trúng tuyển rồi ạ!”

Hạ Dao Đình lập tức tươi như hoa nở, quạt tròn cũng chẳng buồn lắc nữa: “Thật sao? Hạng mấy?”

Tiểu sai ngập ngừng: “Ơ… dạ… hạng bét ạ.”

Hạ Dao Đình: “…”

Sắc mặt nàng ấy sa sầm xuống. Hạ Lục Lang vội tiến lên bóp vai cho tỷ tỷ: “Tỷ tỷ ơi, tỷ tỷ này, dù đội sổ nhưng vẫn là trúng tuyển mà…”

Tiểu sai cũng vội vàng phụ họa: “Đúng thế ạ, đỗ là tốt rồi! Người thi đỗ đều là bậc lương đống vạn người có một đấy ạ!”

Xung quanh đây thiếu gì kẻ rớt đài đang ôm đầu khóc ròng. Đúng là kẻ cười người khóc, ngoài Cống viện, người thì reo hò vui sướng phát điên, kẻ lại lệ chảy ròng ròng, đau đớn khôn xiết, chỉ hận không thể đập đầu xuống đất quyên sinh cho xong.

Lòng Hạ Dao Đình cũng nguôi ngoai đôi chút. Thôi, đỗ là được, đỗ rồi là thành Cử nhân, lại còn trẻ tuổi hơn lúc tên con thứ kia trúng tuyển, thế là đủ để dằn mặt di nương rồi.

Sắc mặt nàng ấy dịu đi, khẽ lắc quạt, hào phóng tuyên bố: “Truyền lệnh xuống, hôm nay mỗi người trong phủ đều được thưởng năm lượng bạc, trừ Hoa Xuân Uyển ra.”

Hoa Xuân Uyển là nơi di nương ở, Hạ Dao Đình rõ ràng là muốn làm họ tức chết.

“Ôi, tạ ơn Nhị cô nương đại ân!” Mấy tên người hầu Hạ phủ vội vàng tạ ơn.

Hạ Lục Lang nịnh nọt đi theo sau tỷ tỷ nịnh hót đòi thưởng. Đang định rời đi, Hạ Dao Đình sực nhớ ra hỏi: “Phải rồi, Thất lang nhà họ Lận thi cử ra sao?”

Nàng ấy cũng không quá để tâm, chỉ là nghe Nhị tẩu nói Lận Chiêm năm nay cũng đi thi thu nên mới buột miệng hỏi một câu.

“Dạ, tôi cũng không để ý ạ.” Tiểu sai gãi đầu cười gượng.

“Thôi bỏ đi.”

Hạ Dao Đình cũng chẳng định tìm hiểu thêm, kết quả thế nào ai cũng đoán được. Đến bề trên nhà họ Lận còn chẳng mảy may để tâm đến đứa cháu ruột thịt này, thì đến lượt một người chị dâu họ như nàng ấy xót xa làm gì.

Nàng ấy bước ra khỏi đám đông, định lên xe ngựa trở về thì bỗng nhiên phía sau, từ hướng Cống viện truyền tới một trận xôn xao náo nhiệt hơn hẳn lúc trước. Có người gào to đến mức giọng khản đặc, lạc hẳn đi vì xúc động:

“Giải nguyên! Giải nguyên kỳ thi thu năm nay là… Lận Chiêm!”

Tiếng hô ấy như một tảng đá khổng lồ ném xuống mặt hồ đang yên ả, tức thì dậy sóng nghìn trùng.

“Lận Chiêm? Lận Chiêm nào?”

Có người thầm thì: “Kinh thành này còn nhà họ Lận nào nữa, chắc chắn là nhà ở phố Đông Dương rồi.”

“Nhưng… nhưng chẳng phải đứa trẻ nhà đó…”

“Không sai được đâu!”

Đám đông ồ lên kinh ngạc, đủ loại âm thanh hỗn loạn quyện vào nhau tưởng chừng muốn hất tung cả mái nhà Cống viện.

Đứng từ xa nghe thấy, Hạ Dao Đình cũng sững sờ, bàn tay cầm quạt tròn khựng lại giữa không trung, không tin vào tai mình mà ngoảnh lại nhìn: “Thật hay giả vậy? Không thể nào chứ?”

Lận Chiêm mà đỗ được sao? Nàng ấy sai tiểu sai quay lại xem cho kỹ, hỏi rõ xem họ đang nhắc tới Lận Chiêm nào.

Tin tức như mọc thêm cánh, chẳng mấy chốc đã truyền khắp kinh thành.

Lúc đầu, đám gia nhân giữ cửa nghe thấy bên ngoài tiếng chiêng trống vang trời, náo nhiệt tưng bừng thì còn tưởng có vị khách quý nào ghé thăm. Họ hé cửa nhìn ra ngoài để xem sự náo nhiệt ấy từ đâu tới, cho đến khi toán quan sai báo hỷ cưỡi ngựa cao chân dừng ngay trước cổng lớn Lận phủ.

Gia nhân giữ cửa kinh hãi: “Thưa các quan gia, chuyện này là…”

Quan sai giơ cao tờ báo hỷ, dõng dạc hô lớn: “Quý phủ Lận Thất công tử đã đỗ Giải nguyên kỳ thi thu khoa Bính Tý, đứng đầu kinh kỳ!”

Tên gia nhân bủn rủn chân tay, suýt nữa thì ngã quỵ xuống đất. Khi hoàn hồn lại, hắn vừa chạy vừa bò vào trong thông báo: “Lão… Lão gia, Phu nhân… Thất công tử trúng… trúng rồi!”

Trong thư phòng, Lận tam gia đang nhấp trà, nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài thì tỏ vẻ không vui: “Ồn ào cái gì, thật vô lễ!”

“Lão gia!” Một tên tiểu sai quỳ sụp xuống đất, giọng run lên vì vui sướng: “Thất công tử trúng Giải nguyên rồi, quan sai đang đưa báo hỷ tới tận cửa ạ!”

“Cái… cái gì cơ?”

Lận tam gia vốn định nổi trận lôi đình vì bị làm phiền, nghe thấy câu này thì tay run lên, tách trà bằng sứ trắng thượng hạng rơi xuống đất vỡ tan tành, vậy mà ông ta chẳng hề hay biết.

Viên Kỳ cũng đứng bật dậy, nhìn tên tiểu sai báo tin: “Thật sao? Ngươi nghe cho kỹ chưa, có đúng là Thất lang không? Đứng đầu Giải nguyên, ngươi không nghe nhầm đấy chứ?”

“Dạ không sai đâu, chắc chắn trăm phần trăm thưa phu nhân! Trên tờ báo hỷ quan sai mang tới có ghi rõ tên Thất công tử, không sai một nét nào ạ!”

Đám người hầu bên ngoài nhìn nhau trân trối. Vị Thất công tử lầm lì, u ám ấy vậy mà lẳng lặng mang về một cái danh Giải nguyên, đúng là người không thể nhìn mặt mà bắt hình dong.

“Tốt! Tốt lắm!” Lận tam gia mặt mày rạng rỡ, trong lòng sướng phát điên. Ông ta mạnh mẽ đứng dậy: “Mau, mở cổng chính! Chuẩn bị hương án, ban thưởng cho quan báo hỷ. Không, truyền lệnh xuống, hôm nay tất cả mọi người trong phủ đều có thưởng, thưởng thật hậu hĩnh!”

Đám gia nhân ngoài thư phòng đều dập đầu tạ ơn. Lận tam gia vuốt râu, phấn khích đi đi lại lại trong sảnh, sau đó chạy thẳng ra tiền viện, vừa đi vừa nói: “Ta đã biết mà, ta biết con em nhà họ Lận chúng ta đâu phải hạng tầm thường! Thất lang đứa nhỏ này từ nhỏ đã thông minh, tâm tính kiên định, giờ rốt cuộc cũng… rốt cuộc cũng…”

Ông ta nói năng có chút lộn xộn, dường như quên tiệt mất sự lạnh nhạt và ghét bỏ mà mình từng dành cho đứa cháu này.

Viên Kỳ cũng nhanh chóng phản ứng, mặt tươi như hoa, chỉ huy đám người hầu: “Mau ra kho lấy lụa đỏ và pháo về, thay hết lồng đèn bên ngoài thành màu đỏ. Dặn dò nhà bếp tối nay mở tiệc lớn, cả phủ cùng ăn mừng!”

Bà ta nhìn sang bà vú bên cạnh, ra vẻ một người thím tận tụy lo lắng cho cháu trai, nghẹn ngào nói: “Thất lang đứa nhỏ này mất cha mẹ sớm, có ngày hôm nay thật là biết phấn đấu quá…”

Họ hàng người thân nghe tin cũng lục tục kéo đến đông đủ. Trong phủ ngoài ngõ chật kín người, tiếng pháo nổ giòn giã, Lận tam gia cười đến sái cả quai hàm.

“Thất đệ đỗ Giải nguyên, thật làm vẻ vang cho nhà họ Lận chúng ta!”

Tứ thúc công vuốt râu, gật đầu lia lịa: “Ta sớm đã thấy Thất lang phi phàm hơn người, ngày thường ít nói chẳng qua là đang dốc lòng cho học thuật đấy thôi!”

Viên Kỳ cười phụ họa: “Chứ còn gì nữa ạ, đứa nhỏ này số khổ nhưng chí cao, giờ coi như đã khổ tận cam lai rồi!”

Lận ngũ gia ra lệnh cho tiểu sai bên cạnh: “Mau đem nghiên mực Đoan Khê ta mới được biếu sang tặng cho Thất lang!”

Phu nhân phòng thứ tư vỗ tay: “Chỗ tôi còn mấy sấp lụa Hàng Châu thượng hạng, vừa hay may cho Thất lang mấy bộ y phục mới!”

Nhất thời, Lận phủ chăng đèn kết hoa, không khí vui như tết, đám người hầu chạy đi đưa tin, mặt mày ai nấy đều hớn hở.

Lận tam gia đem tờ báo hỷ đặt lên bàn thờ tổ tiên, lau nước mắt, tay run lên vì xúc động: “Phải rồi, Thất lang đâu?”

Ông ta nhìn quanh, quản sự vội vàng sai tiểu sai đi tìm. Lận phủ rộng lớn như thế, tìm hai vòng mà chẳng thấy người đâu. Cuối cùng Hạ Dao Đình không nhịn được mới lên tiếng: “Thất đệ… chẳng phải đã dọn ra thư viện ở lâu rồi sao, mọi người không biết à?”

Lời vừa dứt, Lận tam gia ngẩn người ra. Một hồi lâu sau ông ta mới sực nhớ lại. Phải rồi, Lận Chiêm chẳng phải đã sớm dọn ra thư viện rồi sao. Lúc đó hắn có tới viện của ông ta thông báo một tiếng, chỉ là ông ta chẳng thèm để tâm. Sự đi hay ở của đứa cháu này có gì đáng để ông ta bận lòng đâu. Hắn muốn đi đâu thì đi, dù không về nữa cũng chẳng sao. Bao nhiêu năm nay không đuổi hắn đi, một là nể mặt Lận Đàn, hai là không muốn mang tiếng ác với người ngoài.

Hạ Dao Đình khẽ nhếch mép cười thầm, trong lòng thấy kinh ngạc vô cùng. Nụ cười trên mặt cha chồng, mẹ chồng và các vị bề trên bỗng chốc cứng đờ lại. Một bầu không khí ngượng ngùng và lúng túng thầm lặng bao trùm lấy mọi người.

Mãi sau, Lận tam gia mới bật cười: “Đứa nhỏ này thật là, chẳng lúc nào chịu ngơi nghỉ, hóa ra lại quay về thư viện đọc sách rồi. Thế thì mau đi báo tin mừng cho nó, mời vị đại công thần của Lận gia ta trở về. Thư viện Bạch Lộc là nơi khổ cực, lại xa nhà, bảo nó về đây ở cho có người hầu hạ.”

Có người mở lời, mọi người lập tức cười theo, cái vẻ gượng gạo lúc trước tan biến sạch bách.

Khi tin tức truyền về Lận phủ, tên tiểu sai mà Tô Ngọc Dung sai đi ngóng bảng cũng đã về tới nơi. Cả con ngõ xôn xao vì tiếng reo hò của hắn, hàng xóm láng giềng ai nấy đều ló đầu ra xem có chuyện gì.

Nghe thấy tiếng động, Tô Ngọc Dung ngừng bước chân đi lại lo âu. Tên tiểu sai chạy hụt hơi vào sân, vừa bước qua ngưỡng cửa đã quỳ sụp xuống, dập đầu lia lịa: “Phu nhân, Công tử trúng Giải nguyên rồi!”

Tô Ngọc Dung vô thức mỉm cười, rồi chợt ngẩn ra hỏi: “Giải nguyên là cái gì?”

“Dạ là đứng đầu đấy ạ! Là hạng nhất!”

Nàng ngẩn người, rồi toét miệng cười, ngoảnh lại nhìn Lận Chiêm đang thản nhiên ngồi trong sân bóc hạt thông. Hắn cũng ngước mắt nhìn nàng, ánh mắt sâu thẳm bình lặng.

Tô Ngọc Dung lao tới, nắm chặt lấy cánh tay hắn: “Tiểu thúc, đệ đỗ rồi! Hạng nhất đấy!”

Lòng Lận Chiêm vốn bình lặng, nhưng vì sự vui sướng của nàng mà mặt hồ tâm tư phẳng lặng ấy bỗng chốc dậy sóng, xôn xao lạ thường. Ánh mắt hắn dừng lại trên những đầu ngón tay vì dùng lực mà hơi trắng bệch của nàng. Có lẽ nhất thời quá xúc động mà nàng đã quên mất lễ nghi thúc tẩu, cho đến khi đầu ngõ chật ních hàng xóm sang chúc mừng, Tô Ngọc Dung mới sực tỉnh, vội vàng buông tay ra, quay đi tiếp đón mọi người. Nàng lấy những bao lì xì đã chuẩn bị sẵn chia cho từng người, mặt tươi rạng rỡ.

Bấy lâu nay, Tô Ngọc Dung cuối cùng cũng học được chút lễ nghi thỉnh đãi khách khứa, dù còn vụng về nhưng đã khá hơn hẳn cái thời mới đến, nói năng chẳng nên lời.

Hắn nhìn bóng lưng nàng, giữa muôn vàn tiếng chúc tụng ồn ào, hắn nhận ra rõ ràng chỉ có niềm vui của nàng là thuần khiết dành cho hắn, không một chút giả dối. Cánh tay vừa bị nàng nắm lấy dường như vẫn còn vương lại hơi ấm nóng bỏng dưới lớp da thịt, mang đến một kh*** c*m thầm kín, khiến cổ họng hắn vô thức chuyển động, một nỗi rạo rực bị kìm nén bấy lâu trong lòng suýt chút nữa đã phá tung ra ngoài.

Hắn cần những cái chạm sâu hơn, mãnh liệt hơn nữa mới có thể xoa dịu được nỗi khát khao này. Lận Chiêm khẽ mím môi, bấm chặt lòng bàn tay, dốc sức bình định cơn sóng lòng.

Đúng lúc này, quản gia Lận phủ dẫn người kéo tới. Họ làm rùm beng, phô trương thanh thế, nhanh chóng vây kín cái sân nhỏ hẹp. Tô Ngọc Dung đang cười nói với hàng xóm, bỗng thấy một đám người hùng hổ xông vào, đẩy cả những người đang đứng trước cửa ra.

“Thất công tử, Lão gia và Phu nhân sai chúng tôi tới mời cậu về, cả họ đang đợi để ăn mừng cho cậu đấy ạ!”

Nụ cười trên mặt Tô Ngọc Dung tắt ngấm. Thấy người hàng xóm bị xô ngã xuống đất, nàng bỗng nổi giận, thốt ra: “Các người làm cái gì thế? Tôi đã cho phép các người vào nhà tôi chưa?”

Tiếng quát lanh lảnh của người phụ nữ vang lên làm đám người đang ồn ào khựng lại. Họ nhìn theo tiếng nói, nhận ra đó là vị Nhị thiếu phu nhân thân phận thấp kém trong phủ. Bình thường nàng vốn nhút nhát, hễ thấy người là muốn thu mình lại, chưa ai từng thấy nàng nổi giận bao giờ. Lúc này, vị Nhị thiếu phu nhân đang đỡ người phụ nữ bị ngã dậy, trừng mắt nhìn họ, đôi chân mày liễu khẽ nhíu lại, lộ rõ vẻ tức giận.

Tên quản sự cầm đầu nhất thời quên mất định nói gì, một lúc sau mới định thần lại tiến lên hành lễ: “Nhị thiếu phu nhân, chúng tôi cũng vì quá vui mừng thôi ạ. Thất công tử trúng Giải nguyên, cả phủ ai nấy đều mừng vui khôn xiết!”

Quát xong, tim Tô Ngọc Dung đập thình thịch như đánh trống, lòng bàn tay đẫm mồ hôi. Bản tính nàng là thế, cả năm chẳng bao giờ to tiếng với ai một lời. Vừa dứt lời, nàng đã thấy hối hận, cái tính nhát gan lại bắt đầu trỗi dậy, nhưng nàng cố kìm lại, lấy hết can đảm bảo: “Các người… ra ngoài ngay!”

Tên quản sự cười khẩy, chẳng thèm đếm xỉa đến lời nàng, quay sang niềm nở vây quanh Lận Chiêm, mồm năm miệng mười tranh nhau nói. Tô Ngọc Dung há miệng định nói thêm gì đó nhưng rồi lại tức tối quay mặt đi.

“Thất công tử, mau theo chúng tôi về phủ thôi. Xe ngựa đã chờ sẵn bên ngoài, Lão gia còn dặn mở cổng chính, đang chuẩn bị hương án báo cáo tổ tiên đây ạ!” Tên quản sự nịnh nọt bước tới trước mặt thiếu niên đang đứng dưới hiên. Giờ đây địa vị của Thất công tử đã khác hẳn, đã có công danh trên người, không còn là kẻ mà họ có thể xem thường được nữa.

Ánh mắt Lận Chiêm chẳng hề lay chuyển, vẫn dán chặt vào người phụ nữ đang đứng ở cửa. Nàng giận rồi, đôi mắt rủ xuống, tấm thân vốn mềm yếu của nàng bỗng bộc phát ra một sức mạnh kỳ lạ.

Làm sao có thể khiến nàng tức giận được chứ?

“Ra ngoài.” Lận Chiêm lên tiếng.

Tên quản gia khúm núm cười: “Vâng vâng, ra ngay đây ạ, mời Thất công tử…”

“Ta nói là các người.” Ánh mắt thiếu niên chuyển hướng, lạnh lùng xoáy vào gã. Đôi đồng tử vốn đen hơn người thường giờ đây sâu thẳm không chút gợn sóng, giọng điệu bình thản đến rợn người: “Nghe không thấy tẩu tẩu ta nói gì sao? Cút ra ngoài.”

Mọi người sững sờ, tên quản gia đờ đẫn cả người. Thiếu niên vẫn nhìn chằm chằm vào gã, gương mặt không chút cảm xúc, đôi mắt không hề chớp, trông như một pho tượng gỗ bị ám tà thuật. Gã quản sự rùng mình. Thất công tử dù có đỗ đạt thì trên người vẫn mang theo những lời đồn thổi ma quái, giờ lại có thêm công danh, càng là nhân vật không thể đắc tội. Gã không dám nán lại thêm, đành lủi thủi dẫn người rời đi.

Con ngõ nhỏ trở lại vẻ vắng lặng sau khi hàng xóm láng giềng đã tản đi hết. Sự náo nhiệt bất ngờ dường như sắp nhấn chìm tất cả, nhưng Tô Ngọc Dung lại thấy lòng rối bời, có chút hụt hẫng.

Dĩ nhiên nàng mừng cho Lận Chiêm. Ngay khoảnh khắc nghe tin, niềm vui chân thành đã trào dâng trong lòng. Tô Ngọc Dung hiểu rõ cái cảm giác bị hiểu lầm, bị ngó lơ là như thế nào. Những người ruột thịt máu mủ chỉ mang lại cho mình những cơn ác mộng triền miên, chỉ khi mình có giá trị, mang lại lợi ích thì họ mới sực nhớ tới.

Sự săn đón và quan tâm muộn màng này còn đáng tởm, giả tạo hơn cả sự lạnh nhạt bấy lâu nay, khiến người ta khó lòng nuốt trôi. Trước đây họ ở đâu? Khi Lận Chiêm thui thủi một mình trong căn viện hẻo lánh, có ai mang cho hắn một bát canh nóng? Khi hắn bị coi là thiên sát cô tinh, có ai đứng ra nói giúp hắn một câu công bằng? Khi hắn dùi mài kinh sử, có ai hỏi han hắn nóng lạnh ra sao không?

Giờ đây công thành danh toại, e là chẳng ai dám nói xấu hắn một lời, hễ ai mở miệng là sẽ có kẻ lao vào xé xác ngay. Những lời ác độc đeo bám Lận Chiêm suốt mười mấy năm, giờ đây bỗng chốc trở thành minh chứng cho tâm tính kiên định của hắn.

Tô Ngọc Dung lại nhớ tới Lận Đàn. Nếu phu quân ở kinh thành, biết chuyện này chắc chắn sẽ chân thành mừng cho đệ đệ. Chẳng biết bao giờ chàng mới về, nàng dự định lát nữa sẽ viết một lá thư, viết xong là sai người gửi đi ngay, ngựa trạm phi nước đại chắc vài ngày là tới nơi.

Phải rồi, hỷ sự lớn thế này phải ăn mừng thật linh đình mới được. Hôm nay ăn gì nhỉ? Lát nữa ra chợ mua mấy cân sườn về làm món ngon vậy!

Nàng đang mải suy nghĩ thì bỗng nhiên một bóng đen bao phủ trước mặt. Tô Ngọc Dung ngẩng đầu lên, Lận Chiêm đã đứng trước mặt nàng tự bao giờ. Nàng khẽ cười, dịu dàng bảo: “Tiểu thúc, chúc mừng đệ, giờ coi như đã khổ tận cam lai rồi.”

“Vâng.” Lận Chiêm nhìn vào mắt nàng, khóe môi hơi nhếch lên.

“Tẩu tẩu.” Hắn nói, “Đưa tay đây.”

“Hả?” Tô Ngọc Dung không hiểu chuyện gì nhưng vẫn ngoan ngoãn làm theo, đưa một bàn tay ra. Thấy nàng để mu bàn tay lên trên, Lận Chiêm bỗng mím môi cười khẽ: “Lật lại đi.”

“À, ừ.” Tô Ngọc Dung xòe lòng bàn tay ra trước mặt hắn.

Lận Chiêm đặt một nắm hạt thông đã bóc sẵn vỏ vào tay nàng. Tô Ngọc Dung rất thích ăn hạt thông, thỉnh thoảng nấu xôi nàng vẫn hay bỏ thêm vào, nhưng nàng lười bóc vì bóc lâu sẽ rất đau móng tay.

“Hóa ra nãy giờ đệ ngồi đó là để bóc hạt thông à?”

“Vâng.”

Khóe môi Tô Ngọc Dung khẽ động, im lặng một lát rồi nói: “Tiểu thúc, ta suy nghĩ kỹ rồi, đệ vẫn nên về Lận phủ một chuyến. Đệ đừng có học theo huynh trưởng của đệ. Thật ra… chàng đưa ta rời khỏi Lận phủ, ta tuy rất vui và thấy tự tại, nhưng lúc nào cũng sợ chuyện này sẽ ảnh hưởng đến tiền đồ của chàng. Tam thúc và mọi người nể nang quan lộ của phu quân nên sẽ không làm to chuyện, nhưng đệ thì mới bắt đầu thôi. Phu quân không có nhà, nhiều việc sau này đệ vẫn cần họ lo liệu sắp xếp cho. Ta… vốn ít hiểu biết, chẳng giúp gì được cho đệ cả.”

“Ta biết.” Lận Chiêm hiểu ý nàng. Nàng lo hắn lúc này lông cánh chưa đủ cứng, chưa thể đối đầu với tông tộc.

“Vậy lát nữa đệ về đi.” Tô Ngọc Dung ngước nhìn hắn, “Cho ta gửi lời chúc mừng tới Ngũ đệ muội nhé, nghe nói đệ đệ muội ấy cũng trúng tuyển đấy.”

“Ta biết rồi.”

Lận Chiêm đứng trước cổng nhìn nàng một lúc. Tô Ngọc Dung vận bộ váy màu hoa uất kim thêu hoa văn cát tường, dải thắt lưng màu trắng hoa dành dành làm tôn lên vóc dáng yêu kiều của nàng. Nàng mỉm cười dịu dàng, gật đầu ra hiệu bảo hắn hãy đi về phía tiền đồ của mình.

Lận Chiêm chậm rãi quay người đi. Hắn muốn nói rằng tẩu tẩu sai rồi, hắn không giống huynh trưởng. Lận Đàn còn nặng tình thân, lo trước ngó sau, trọng lễ nghi hiếu đạo, còn hắn thì không. Con người hắn có thù tất báo, hễ tìm được cơ hội là nhất định phải trả thù bằng được.

Bóng dáng tiểu thúc đã đi xa, sau cơn náo nhiệt, con ngõ nhỏ lại trở về vẻ vắng lặng. Tô Ngọc Dung quét dọn những mẩu giấy đỏ và xác pháo rơi vãi trên đất, rồi quay vào phòng ngồi bên bàn viết thư.

“Gửi phu quân Hi Yến.”

Bốn chữ này là Lận Đàn dạy nàng viết. Ban đầu nàng chẳng muốn học chút nào, thực ra không phải không muốn mà là vì thẹn thùng. “Phu” nghĩa là chồng, Lận Đàn bảo cách xưng gọi tên tự giữa nam nữ thể hiện quan hệ thân mật, chỉ vợ chồng mới có thể gọi nhau như thế. Một lá thư từ khi viết xong cho tới tay người nhận phải qua tay biết bao nhiêu người. Biết bao nhiêu trạm, biết bao nhiêu sứ giả, chẳng lẽ ai cũng thấy bốn chữ này sao?

Nghĩ tới đó là Tô Ngọc Dung đỏ mặt, nhưng lúc này nàng vẫn nắn nót viết lên phong thư bốn chữ ấy. Nàng kể với chàng rằng nàng vẫn ổn, Lữ công dạy nàng học chữ, Lý tỷ tỷ thỉnh thoảng mời nàng đi dự tiệc, nàng và hàng xóm cũng chung sống rất hòa thuận, ai cũng yêu quý nàng.

Câu cuối cùng, Tô Ngọc Dung đã nói dối. Nàng chẳng biết có ai yêu quý mình không, nhưng nàng không muốn Lận Đàn ở xa phải lo lắng, nên nói dối là mình rất được lòng mọi người. Nàng báo cho Lận Đàn biết tiểu thúc đã đỗ Giải nguyên, mọi người đều đã thay đổi cái nhìn về chú ấy. Lận gia mở cổng chính tế cáo tổ tiên, sau này cuộc sống của chú ấy sẽ bớt trắc trở hơn.

Nàng nhắc tới bao nhiêu người, cuối cùng mới nhắc tới bản thân mình.

“Thiếp rất nhớ chàng, mong chàng sớm ngày về nhà.”

Viết xong câu này, cả người Tô Ngọc Dung đã đỏ bừng như trái chín. Nàng cẩn thận xếp lá thư lại, bỏ vào giỏ rồi phủ một tấm vải xanh lên trên. Nàng định nhân lúc đi mua thức ăn sẽ ghé qua trạm chuyển thư để gửi. Đi dọc đường, mấy lần nàng muốn quay về viết lại, lòng cứ đắn đo mãi: viết thế này liệu có quá bỗ bã không? Nếu lúc Lận Đàn mở thư mà có người bên cạnh, thấy nàng viết “Thiếp rất nhớ chàng”, chẳng phải sẽ cười rụng răng sao?

Tô Ngọc Dung bước chân ngập ngừng, càng đi càng chậm. Đã đến trước trạm thư rồi mà vẫn định quay về, đúng lúc ấy, một tiếng chuông lạc đà và tiếng vó ngựa dồn dập truyền tới từ đầu phố.

“Công văn khẩn cấp, người không phận sự tránh ra!”

Đám đông xôn xao dạt sang hai bên đường. Tô Ngọc Dung cũng xách giỏ lùi lại vài bước. Nàng ngước mắt nhìn, một sứ giả mặc võ phục, chân đi ủng đen đang cưỡi ngựa lao tới, gương mặt nghiêm trọng, giữa đôi mày vương một vẻ u sầu trầm mặc. Một bà lão xách giỏ rau vô tình lùi mạnh ra sau, đâm sầm vào người Tô Ngọc Dung.

“Ối!” Tô Ngọc Dung kêu lên một tiếng, bị đâm đến loạng choạng, chiếc giỏ tre trong tay tuột mất, rơi “cộp” xuống đất. Miếng sườn vừa mới mua lăn ra khỏi bọc lá sen, lấm lem cát bụi. Lá thư cũng rơi xuống đất, bị dòng người qua lại dẫm lên mấy cái, bẩn thỉu đến mức không còn nhìn rõ chữ trên đó nữa.

“Sườn của ta, thư của ta!” Tô Ngọc Dung xót xa đến thắt lòng, miếng sườn nàng vừa mới nhờ người ta chặt xong.

Nàng ngước đầu nhìn theo sứ giả vừa phi ngựa qua trên quan lộ, chỉ trong chớp mắt đã đi xa hàng trăm thước. Tô Ngọc Dung vừa định cúi xuống nhặt đồ thì lồng ngực bỗng nhiên nhói lên một cái không báo trước, một cơn đau buốt sắc lẹm khiến nàng gần như ngộp thở.

“Ưm…” Nàng đưa tay ôm lấy ngực, đau đến mức mồ hôi lạnh rịn ra trên trán. Tô Ngọc Dung đứng đờ người tại chỗ, thẫn thờ nhìn bóng lưng sứ giả đã đi xa, trong lòng bỗng thấy hẫng hụt như vừa mất đi một mảnh linh hồn. Nàng không nói rõ được đó là cảm giác gì, chỉ biết hít hà mấy hơi sâu để xoa dịu cơn đau nhói ấy.

“Cô nương, tôi xin lỗi, xin lỗi nhé… già này thật tình bị dọa cho khiếp quá…” Bà lão vừa va vào nàng vẻ mặt đầy hối lỗi, run rẩy tiến lên xin lỗi.

Lòng Tô Ngọc Dung nôn nao bồn chồn: “Không… không sao ạ…” Nàng nhỏ giọng nói rồi cúi xuống dọn dẹp qua loa, chẳng còn tâm trí đâu mà gửi thư nữa: “Không sao đâu, thật sự không sao, không đáng ngại ạ.”

Tô Ngọc Dung an ủi mãi bà lão mới chịu rời đi. Nàng xách chiếc giỏ bẩn thỉu bị dẫm bẹp, trĩu nặng tâm tư trở về nhà. Cái cảm giác hoảng hốt vô cớ ấy như một đám mây đen bao phủ lấy nàng, xua mãi không đi.

Sườn mất rồi, về nhà nàng cũng chẳng còn tâm trạng ăn uống, chỉ hớp vài ngụm cháo người hầu bưng lên rồi tắm rửa sớm lên giường. Đêm ấy, nàng nằm trên giường trằn trọc mãi. Cũng giống như một ngày nào đó của mấy hôm trước, mưa rơi suốt đêm, nàng cũng thức trắng đêm để nghe tiếng động.

Trong đêm khuya tĩnh mịch, cơn đau âm ỉ nơi lồng ngực càng lúc càng rõ rệt, từng đợt thắt lại. Đó không phải cơn đau quặn thắt dữ dội mà là một nỗi đau âm ỉ, nặng nề, như thể có một tảng đá nghìn cân đè lên ngực. Tô Ngọc Dung th* d*c khó khăn, không kìm được mà cuộn tròn người lại, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng. Nàng chẳng biết mình bị làm sao, chỉ thấy một nỗi hoang mang và bất an vô tận bủa vây lấy mình. Nước mắt không tự chủ được mà tuôn rơi, cho đến khi ướt đẫm gối đầu, nàng đưa tay lên mới nhận ra mình đã khóc lóc thảm thiết từ bao giờ.

Tại sao lại thế này? Tô Ngọc Dung ngồi dậy, nước mắt cứ thế trào ra không sao ngăn được. Nàng khoác thêm áo, thắp đèn lên. Người hầu canh đêm bên ngoài hỏi: “Nương tử, có chuyện gì vậy?”

“Ta muốn tới Lận phủ một chuyến.” Tô Ngọc Dung cuống quýt mặc y phục, nhưng tay run rẩy đến mức không thắt nổi dải lưng.

Người hầu bảo: “Bây giờ sao ạ? Giờ mới là canh tư, mọi người ở Lận phủ chắc vẫn còn đang ngủ. Hay nương tử đợi thêm chút nữa, trời sáng hãy đi. Có chuyện gì khẩn cấp sao ạ?”

Động tác mặc áo của nàng khựng lại. Có chuyện gì khẩn cấp không? Hình như là không có, chỉ là lòng nàng bất an, lo lắng có chuyện chẳng lành mới muốn tới Lận phủ xem sao. Nhưng tới đó rồi nàng sẽ nói gì đây? Nếu chẳng có chuyện gì xảy ra, chẳng phải là làm phiền giấc ngủ của người ta sao? Giữa đêm hôm khuya khoắt, thôi đừng làm phiền người khác thì hơn.

Nàng lại ngồi xuống, lẩm bẩm: “Được… vậy ta đợi thêm vậy.”

Người hầu gật đầu: “Nương tử ngủ thêm lát nữa đi, khi nào trời sáng em sẽ gọi.”

“Ừm, được.”

Tô Ngọc Dung chẳng thể ngủ nổi, nàng ngồi trong phòng, mở mắt chờ cho đến khi trời sáng. Khi chân trời phía Đông vừa hửng sáng, nàng đã đẩy cửa phòng ra. Thấy nàng đã ăn vận chỉnh tề, người hầu không khỏi ngạc nhiên.

“Đi thôi, đi cùng ta tới Lận phủ.”

“Dạ…”

Nhưng nàng còn chưa ra khỏi ngõ đã thấy tên tiểu sai tới báo tin. Gã ngập ngừng bước tới vài bước, vừa thấy nàng là hai đầu gối khuỵu xuống, quỳ sụp: “Nhị thiếu phu nhân…”

Tô Ngọc Dung nhìn gã: “Chuyện gì thế?”

Tên tiểu sai nghẹn ngào cúi đầu, khóc nấc lên: “Nhị công tử… mất rồi.”

Tô Ngọc Dung ngơ ngác hỏi lại: “Ngươi nói gì cơ?”

Mất rồi là ý làm sao?

Tên tiểu sai quẹt nước mắt, khóc ròng: “Nhị công tử lúc trị thủy ở Lật Thành bị nước cuốn đi, thi cốt không tìm thấy… Công văn khẩn đã đưa về kinh, sáng sớm nay tin tức từ trong cung vừa truyền ra, Lận phủ đã treo vải trắng rồi ạ…”

Bên tai Tô Ngọc Dung bỗng vang lên tiếng ù ù, tựa như người bị chết đuối, mọi âm thanh xung quanh đều bị ngăn cách bên ngoài, chỉ nghe thấy tiếng th* d*c nặng nề của chính mình. Lồng ngực nàng nghẹn thắt, mỗi hơi thở đều khiến tim đau nhói dữ dội.

“Nương tử… Nương tử!” Người hầu kinh hoàng nhìn nàng.

Tô Ngọc Dung khó nhọc hít thở, nàng định nói gì đó nhưng vừa mở miệng chỉ phát ra những tiếng “hộc hộc” khản đặc như chiếc túi vải rách nát bị lọt gió. Trong tích tắc, nàng mất hết sức lực, loạng choạng bước tới một bước. Nàng chẳng rõ là trời đang mưa hay sao mà trước mắt nhòa đi, chẳng thấy gì cả. Nàng lắc đầu, giọng khàn đặc: “Ngươi… ngươi lừa ta… ngươi nói bậy…”

Tên tiểu sai quỳ dưới đất dập đầu: “Tiểu nhân không dám đâu ạ…” Chuyện này có cho kẹo cũng chẳng ai dám nói càn. Lận Đàn là mệnh quan triều đình, nếu không có bằng chứng mà dám truyền tin tử nạn là trọng tội chém đầu.

Tô Ngọc Dung không tin, nàng lảo đảo bước đi, cảm giác đôi chân như bị găm chặt xuống đất. Bước chân nàng nặng trĩu, chẳng nghe rõ người bên cạnh đang nói gì, mấy lần vấp ngã nhưng chưa kịp đứng vững đã lại lao về phía trước.

Trước cổng Lận phủ, người hầu đang hối hả treo lồng đèn trắng dưới hiên. Họ cũng mới biết tin sáng nay. Hôm qua Thất công tử trúng tuyển, cả phủ còn mở tiệc linh đình ăn mừng, vậy mà lồng đèn đỏ treo chưa được một ngày đã phải thay bằng màu trắng.

Lận tam gia ngồi bệt trên ghế thái sư, gương mặt thẫn thờ. “Làm sao có thể chứ…” Ông ta lẩm bẩm trong miệng, không dám tin vào sự thật, cứ lặp đi lặp lại: “Không thể nào… chuyện này không thể nào.” Hi Yến làm sao có thể chết được chứ.

Viên Kỳ cũng đứng bên cạnh quẹt nước mắt. Sáng nay lúc trong cung truyền lời sang, Lận tam gia vừa uống rượu xong mới chợp mắt được một lát. Lúc đó mọi người trong phủ đều ngơ ngác, không hiểu vị thái giám báo tin nói gì, im lặng một hồi lâu mới định thần lại. Đây là tin từ trong cung, đã qua nội đình thẩm tra xác thực mới truyền ra ngoài, không thể là giả được.

Lận tam gia nghe xong lập tức tối sầm mặt mũi, đám gia nhân vội vàng đỡ lão dậy, cuống cuồng bấm nhân trung. Ông ta khóc lóc thảm thiết, có dấu hiệu trúng gió. Viên Kỳ vội vã vốc một nắm thuốc trợ tim nhét vào miệng ông ta, rồi sai người đi thông báo cho Tô Ngọc Dung đang ở riêng nơi khác.

Chẳng mấy chốc, tất cả mọi người trong Lận phủ đều đã thức giấc. Lận Chiêm thức trắng đêm, nén nỗi ghê tởm để đối phó với họ suốt một ngày trời. Sáng sớm, tên tiểu sai hốt hoảng lao vào sân báo cho hắn biết Lận Đàn đã chết.

Hắn cau mày: “Dám nói càn ta sẽ cắt lưỡi ngươi.”

“Nô tài không dám ạ!” Thấy tên tiểu sai không có vẻ gì là nói dối, Lận Chiêm nhíu chặt lông mày, đứng dậy đẩy cửa bước ra.

Lận Đàn chết rồi? Tẩu tẩu có biết chuyện này không?

Lận Chiêm lao ra khỏi viện, không khí trong phủ thảm đạm vô cùng, người hầu đang chăng vải trắng dưới hiên. Hắn chẳng thèm nhìn Lận tam gia đang ngồi rũ rượi trên ghế thái sư lấy một cái, đi thẳng ra cổng lớn.

Một bóng hình mảnh khảnh, yếu ớt tựa như một cơn gió cũng có thể thổi bay xuất hiện trước cổng phủ. Tóc tai Tô Ngọc Dung rối bời, nàng chạy suốt một quãng đường dài tới đây, đám gia nhân chẳng ai đuổi kịp nàng.

Lận Chiêm sững sờ, đưa tay ra: “Tẩu tẩu…”

Tô Ngọc Dung không nhìn thấy hắn, lảo đảo bước về phía trước. Đập vào mắt là một màu trắng tang tóc đến nhức mắt. Một sự tĩnh lặng như chết chóc.

Tô Ngọc Dung từng bước đi vào trong phủ, giọng nàng khản đặc: “Người đâu?”

Viên Kỳ che miệng khóc: “Hi Yến bị nước cuốn đi, thi cốt không tìm thấy, họ chỉ tìm thấy một chiếc áo rách nát thôi.”

Tô Ngọc Dung ngây dại nhìn sang. Trong chiếc hộp gỗ đặt một chiếc áo bào màu xanh đen rách mướp, vấy đầy vết máu. Tô Ngọc Dung bước tới cầm lên, chỉ nhìn một cái, đôi tay nàng run rẩy dữ dội, nước mắt lã chã tuôn rơi.

Chiếc áo này… là của Lận Đàn. Nàng nhận ra nó, vì trên đó vẫn còn vết khâu do chính tay nàng vá lại, là nàng đã tận tay xếp nó vào hành lý khi chuẩn bị cho chàng lên đường.

Chàng chết rồi… chàng chết thật rồi…

Trước mắt Tô Ngọc Dung trắng xóa, nàng chẳng còn nhìn thấy gì nữa, thân hình lảo đảo rồi ngã quỵ xuống đất ngất đi.



Loading...