Ký Sự Nguyệt Hoè Thụ - Tung Hổ Khứu Hoa

Chương 54


Chương trước Chương tiếp

Cây cối và thảm cỏ nơi đây đều được cắt tỉa rất đẹp, được chăm sóc vô cùng tỉ mỉ. Cái giống cây cỏ này, nếu không có người quản thì cứ thế mà mọc, cành lá muốn vươn dài bao nhiêu tùy ý, tự do tự tại. Nghĩ cũng lạ, nước Mỹ tự do là thế, vậy mà cỏ cây lại bị con người rèn vào khuôn khổ. Nam Bắc nhìn cô ruột xén cỏ, bảo rằng ở nông thôn Trung Quốc, cỏ là thứ phải tranh nhau mà giật, mùa hè thì để nuôi dê, nuôi thỏ, mùa đông thì dùng nhóm bếp. Có nhiều nhà không sắm nổi tấm đệm, bèn lấy cỏ tranh lót lên giường, cỏ khắp nơi bị người ta cắt đến trụi lủi. Cô cứ kể được một chuyện, cô ruột lại thở dài một tiếng: “Quả là khổ quá.”

Lòng Nam Bắc thấy tịch mịch, cô đứng đó nhìn cô ruột cắt cỏ mãi không thôi.

Bầu trời xanh ngắt, vừa tĩnh lặng vừa tươi đẹp, lại còn giàu có đến nhường này. Cô cũng từng thấy qua những phong cảnh rất đẹp, chỉ là chúng nghèo khổ đến đáng sợ, khiến người ta chẳng còn tâm trí đâu mà nhìn ra vẻ đẹp hay không nữa.

Sau này, nhờ nỗ lực của bản thân, cô vào thực tập tại một ngân hàng, công việc bận rộn vô cùng. Một ngày nọ, khi quay về trường, cô nhận được một tấm bưu thiếp gửi tới từ San Francisco. Cô nhận ra nét chữ của anh ngay lập tức. Trên đó viết rằng anh đến đây khảo sát, sắp phải quay về rồi. Chỉ vỏn vẹn hai câu như thế, chẳng có gì đặc biệt. Có vẻ như anh chỉ muốn thông báo cho cô biết chuyện đó. Nam Bắc thấy thật nực cười, anh đến Mỹ khảo sát thì liên quan gì đến cô? Anh có rời đi thì cũng chẳng dính dáng gì đến cô cả. Nếu là ngày trước, có lẽ anh còn tự coi mình là anh trai cô, nhưng hai người đã từng ngủ với nhau rồi, mối quan hệ vốn đã chẳng còn trong sáng. Nói là anh em không phải anh em, nói là tình nhân cũng chẳng phải tình nhân, anh gửi cái thứ này đến rốt cuộc là có ý gì?

Đã sớm đường ai nấy đi rồi, cô thực sự không muốn chạm vào ký ức, hà tất phải tự rước lấy đau khổ? Thế mà hay thật, tấm bưu thiếp này đột ngột hiện ra trước mắt, nét bút đầu tiên của chữ cái đầu tiên đã lôi tuột con người ta về lại trước cánh cửa của cái quá khứ khổng lồ ấy. Chẳng cần nhìn quanh cũng biết mọi thứ bên trong vẫn còn nguyên vẹn.

Nam Bắc ném tấm bưu thiếp vào ngăn kéo của chiếc vali, từ đó không đụng tới nữa.

Khoảng chừng từ năm 1985, tâm trạng cô bắt đầu chùng xuống. Chẳng vì lý do gì, đột nhiên cô cảm thấy chẳng còn hứng thú với điều gì nữa, làm việc cũng ngày càng tùy hứng. Thỉnh thoảng cô vẫn đi chơi cá cược đua ngựa, nhưng toàn cược bừa, tùy theo tâm trạng. Khi đó Phùng Trường Canh cũng đã biết chút ít mánh khóe rồi, cậu ta đang quen một cô gái gốc Nhật, nhà gái rất giàu. Cách làm việc của Phùng Trường Canh cũng có đặc điểm rất rõ rệt, khi cần nói chuyện tình nghĩa thì cậu ta là người Trung Quốc, còn khi liên quan đến tiền bạc thì cậu ta dùng tiêu chuẩn Mỹ. Cậu ta vẫn cùng cô đi chơi cá cược đua ngựa, dù sao cũng quen biết bao nhiêu năm, vài câu cãi vã rồi cũng qua đi.

“Sao cậu lại đặt cược con này, nhìn là biết không được rồi.” Phùng Trường Canh tốt bụng khuyên nhủ. Nam Bắc liếc nhìn cậu ta: “Tôi cược con nào kệ tôi chứ? Tôi thích, tôi vui là được.”

Phùng Trường Canh trơ mắt nhìn cô thua tiền, thua hết lần này đến lần khác. Cậu ta không hiểu nổi, tiền bạc quan trọng đến thế cơ mà, họ đến Mỹ để làm gì? Nói nghe cho sang là học tập nghiên cứu, nhưng thực chất là ham cái cuộc sống tốt đẹp ở Mỹ, chẳng ai muốn quay về gặm bánh bao với dưa muối cả. Vậy mà Nam Bắc cứ như Lý Bạch vậy, mang cái tâm thế ngàn vàng tiêu hết rồi sẽ lại về. Phùng Trường Canh bị cô hét đến mức dây thần kinh cũng rung lên theo. Cô kiếm được tiền nhưng tiêu xài chẳng mảy may tiếc nuối: mua quần áo, mua nước hoa, hở ra là mời người ta đi ăn. Cô là người hào phóng nhất trong nhóm đồng hương. Ai cũng thấy cô yêu sự náo nhiệt, giống như một khu vườn phải mời cho bằng được cào cào, kiến, ve sầu tới, phải có côn trùng kêu râm ran, bay nhảy khắp nơi thì mới có sức sống. Thế nhưng mọi người ngày càng bận rộn, không còn thích tụ tập như hồi mới chân ướt chân ráo tới đây nữa. Khoản trợ cấp mỗi tháng chẳng thấm vào đâu. Ở trong nước, họ là những đứa con cưng của trời xanh, nhưng ở Mỹ, vàng ròng khắp đất chẳng phải của họ, họ vẫn phải lo mưu sinh. Con người ta rất tự do, một kiểu tự do chẳng ai quản, chẳng ai hỏi han. Tuy nhiên, ngày tháng rồi cũng sẽ dần thích nghi, bị đá một cái xuống bể nước, nếu không nỗ lực học bơi thì sẽ bị chết đuối.

Chỉ có Nam Bắc là dường như đang thụt lùi. Cô ngày càng sợ hãi sự cô độc, đã có mấy lần tâm trạng cô tồi tệ vô cùng, cứ vô cớ muốn khóc, vừa mở mắt ra đã muốn khóc. Cô gọi điện cho Lê Quân Hồng, bảo: “Cha ơi, con nhớ nhà.”

Câu nói ấy chẳng biết từ đâu mà ra nữa, rõ ràng không phải vậy. Khi nói câu đó, trong đầu cô hoàn toàn không nghĩ về căn nhà mấy chục mét vuông của Lê Quân Hồng. Cô cảm thấy chẳng nơi đâu là nhà cả. Cô vò mặt mỗi khi phiền não hệt như lúc còn nhỏ, hỏi Lê Quân Hồng có biết một loại sâu không, hễ từ trên cây rơi xuống là sẽ giả chết, nằm ngửa bốn chân lên trời.

Lê Quân Hồng nghe cô nói đi nói lại về mấy con sâu mà lòng đầy lo lắng. Ông cảm thấy trạng thái tinh thần của cô không được tốt, bèn nói: “Nhớ nhà thì về ở một thời gian, đừng làm việc quá sức, sức khỏe là vốn quý nhất của cách mạng. Dạo gần đây cha thức đêm mấy lần là thấy rõ ràng rằng mình không ổn rồi.”

Nam Bắc nói: “Cha, cha mới là người cần chú ý sức khỏe. Cha đã hứa là sẽ thật khỏe mạnh để cống hiến thêm năm mươi năm cho tổ quốc mà.”

Hai cha con trò chuyện về những việc vụn vặt. Lê Quân Hồng làm theo lời Chương Vọng Sinh, không hề nhắc tới anh. Ban đầu, Lê Quân Hồng còn báo tin bình an cho anh, sau này khi cô đã ổn định ở Mỹ, liên lạc cũng thưa dần. Dù vậy, Lê Quân Hồng vốn là người rất có lễ tiết, mỗi khi Tết đến xuân về đều gọi một cuộc điện thoại cho Chương Vọng Sinh để hỏi thăm nhau. Chương Vọng Sinh cũng rất mực chừng mực, không hỏi han chuyện riêng tư của cô, chỉ biết cô học hành rất tốt ở Mỹ, lại tìm được một chỗ thực tập rất khá, tiền đồ rộng mở.

Lê Quân Hồng cũng không hỏi chuyện riêng của anh, đại loại như đã kết hôn chưa, có con cái gì chưa.

Công việc thực tập của Nam Bắc vốn dĩ đang rất tốt. Một cơ hội tình cờ, cô nghe nói thị trường hàng hóa kỳ hạn khi đó có người đang tuyển học viên, cô đi đăng ký và trúng tuyển, cùng mười mấy người khác học tập các kỹ năng cần thiết của một nhân viên giao dịch. Một thời gian sau, hai người cộng sự đó đưa cho mỗi người vài chục nghìn đô la tiền vốn, dành một tháng để tiến hành mua bán thực tế.

Cả phòng giao dịch đâu đâu cũng thấy người ta không ngừng ra hiệu tay này tay nọ, cô cũng bắt đầu nói toàn thuật ngữ chuyên môn. Trưởng bộ phận giao dịch cho rằng Nam Bắc rất hợp làm nhân viên giao dịch vì cô tràn đầy sức sáng tạo và có sự nhạy bén với thị trường. Công việc này từng khiến cô vô cùng hưng phấn, mỗi khi gọi điện về nhà đều tỏ ra rất hào hứng khiến Lê Quân Hồng lại yên tâm, cứ ngỡ tâm trạng cô đã được điều chỉnh lại.

Nam Bắc quyết định lần tới về nước sẽ tặng cha mẹ vài món quà quý giá, cô không tiếc tiền. Cái thứ gọi là tiền này, ngày xưa nó là một thứ gì đó xa xôi, xa xôi như là đồ ăn vậy. Cô đói đến mức cồn cào ruột gan, ngẩn ngơ nhìn những đám mây trên trời hỏi: mây có ăn được không? Lại nhìn cỏ lau bên bờ sông: cỏ lau có ăn được không? Thậm chí, thấy người ta vác cuốc đi qua, cô cũng tự động nghĩ thầm: cái cuốc có ăn được không? Cô thật lòng nghĩ như thế đấy, không phải vì ngu xuẩn, mà vì đói đến mức không thể đói hơn được nữa. Mọi thứ trên đời, bất cứ thứ gì, đều có thể bị đưa vào não để nghĩ xem có ăn được không.

Tại sao có được nó lại bỗng chốc trở nên dễ dàng như vậy? Nam Bắc là người giỏi kiếm tiền nhất, có đầu óc kinh doanh nhất trong đám du học sinh này. Có một ngày, chẳng hiểu sao cô chợt nảy ra một sự bốc đồng, muốn đem tiền ra đốt, đốt thành một ngọn lửa bùng cháy dữ dội. Cô muốn đốt ngay giữa ban ngày ban mặt để xem có bao nhiêu người sẽ lao vào biển lửa mà cướp, dốc sức như cướp lấy lương thực, như cướp lấy tim gan của chính mình. Cô thấy cảnh tượng đó chắc hẳn sẽ rất k*ch th*ch, rất thú vị. Cô càng nghĩ càng tự mình cười ha hả, nhưng rồi đang cười, trong mắt bỗng hiện lên một vẻ hung tợn trầm uất, chẳng còn chút vui vẻ nào nữa, như thể giây tiếp theo cô có thể từ cửa sổ nhà cao tầng mà nhảy xuống vậy. Nhất định phải mặc chiếc váy đẹp nhất mà nhảy xuống. Nghĩ đến đây, cô giật mình kinh hãi.

Tiết Thanh minh năm đó, Chương Vọng Sinh cùng anh cả đi đốt vàng mã. Anh thấy đám trẻ con cầm đồ chơi và đồ ăn từ trên núi xuống rồi giành giật nhau, chẳng ai nhường ai, đánh nhau loạn xạ. Chương Vọng Sinh thấy những món đồ chơi và đồ ăn đó không giống với đồ ở địa phương. Anh lại gần xem thì thấy trên đó in chữ tiếng Anh. Anh hỏi lũ trẻ lấy đồ ở đâu, đứa trẻ chỉ tay xuống chân núi, đó chính là nơi ngày xưa họ bỏ lại Bát Phúc.

Chương Vọng Sinh nghi ngờ là cô đã quay về.

Chương Vọng Hải thấy anh cứ thẫn thờ thì có chút lo lắng, hỏi anh có chuyện gì không, anh bảo không có gì. Đến trước mộ của cha mẹ và anh hai, họ thấy có hai bó hoa cúc, rõ ràng là hoa mua ở thành phố, chứ ở nông thôn vào mùa này không ai bán hoa cúc cả.

“Có ai đã đến đây sao?” Chương Vọng Hải hỏi anh.

Chương Vọng Sinh nghĩ ngoài cô ra thì chẳng còn ai khác, nhưng anh cũng không nói gì với anh cả.

Nhưng là anh đã hiểu lầm, Nam Bắc không hề quay về. Cô nhờ một người bạn trong nước làm việc này, còn bản thân cô vẫn ở Mỹ. Cô vốn định cuối năm 1985 sẽ về, nhưng vào giữa mùa thu, một cuộc điện thoại từ trong nước gọi tới, Lê Quân Hồng đột phát bệnh tim qua đời trong một hoạt động công tác. Khi đó bên dưới vẫn còn rất nhiều người đang ngồi, ông ngã xuống từ trên bục, không kịp cấp cứu.

Nam Bắc vội vàng bay từ Mỹ về, cô chỉ xách theo một chiếc vali nhỏ, quần áo cũng chưa kịp sắp xếp. Ở trên máy bay, cô không ngừng rơi nước mắt. Về đến nhà, cô ôm chầm lấy Trần Sính Đình mà khóc nức nở. Lê Quân Hồng là chuyên gia hóa chất, sau khi ông qua đời, đơn vị đã ra cáo phó và thành lập ban tang lễ. Nam Bắc nhìn dòng người qua lại tấp nập, náo nhiệt vô cùng. Ảnh thờ của Lê Quân Hồng treo ở đó, mỗi lần nhìn qua, cô đều cảm thấy đó không phải là cha mình. Cô lại nhớ đến Chương Vọng Triều, năm xưa cũng là cảm giác này.

Thực ra trước khi phát bệnh, Lê Quân Hồng đã có những triệu chứng như thắt ngực, khó thở. Trần Sính Đình đã bảo ông nghỉ ngơi nhiều hơn, ông cũng nghe theo, nhưng vì liên tiếp có mấy cuộc tọa đàm nên thảm kịch đã xảy ra. Lúc sinh thời ông đã lập di chúc, ông không để lại bất cứ tài sản nào cho con cái, một số tranh chữ, đồ cổ gia bảo cùng tiền lương của ông đều quyên góp cho nhà nước. Điểm này Trần Sính Đình cũng không có ý kiến gì. Nhưng những việc này Lê Quân Hồng từng dặn dò bằng miệng với Trần Sính Đình rằng sau khi ông mất hãy giao cho Nam Bắc lo liệu.

Vốn dĩ là không muốn để chị cả và anh hai biết, Nam Bắc ở bên mẹ, đợi tang lễ kết thúc hai mẹ con trong phòng bàn bạc, rốt cuộc vẫn bị họ nhận ra manh mối, thế là bắt đầu làm loạn.

Trong ba người con, chỉ có Nam Bắc là chưa lập gia đình. Chuyện này cả anh rể cả lẫn chị dâu hai đều nhảy vào xen vào. Một đại gia đình, hễ cứ đụng tới tiền là không tài nào nói chuyện hòa nhã được nữa, náo loạn đến mức rất khó coi. Nam Bắc bèn đưa Trần Sính Đình sang nhà bà ngoại, không muốn để bà đau lòng. Trần Sính Đình bảo cô hãy quay về Mỹ, Nam Bắc không chịu. Cô nói: “Mẹ, một mình mẹ không đấu lại nổi lũ sói đó đâu. Có lẽ cha quá hiểu họ nên mới bảo con xử lý.”

Ở nhà, cô lại bị một nhóm người bao vây công kích.

Nam Bắc tức đến run người, đảo mắt nhìn khắp căn phòng đầy người: “Tro cốt cha còn chưa lạnh, các người quá quắt lắm rồi đấy!”

Chị cả nói: “Mày là một đứa người Mỹ, mà có mặt mũi nào nhắc đến cha? Lúc cha còn sống, mày đã tận hiếu chưa? Giờ này mày chạy về đây làm bộ làm tịch. Những năm qua mày chỉ biết ở Mỹ hưởng phúc, ăn ngon mặc đẹp, ngày tháng chẳng biết sống sung sướng đến mức nào, mày đã chăm sóc bố được ngày nào chưa?!”

Nam Bắc lạnh lòng: “Tôi nợ gì tôi tự biết rõ, còn các người thì sao? Đừng tưởng tôi ở Mỹ là mù là điếc. Các người ở trong nước, ai lo thân người nấy, dịp lễ tết cũng chỉ tới thăm người thân cho có lệ. Quà cáp mang đến chẳng đáng mấy chục tệ, vậy mà cha còn phải lì xì cho con cái các người tới mấy trăm tệ. Tôi nói cho các người biết, cha từng nói mỗi người đều phải dựa vào lao động mà kiếm sống, các người thiếu tay hay thiếu chân hả? Bây giờ tôi đang tôn trọng di nguyện lúc sinh thời của cha, ông đã cống hiến cả đời, là một người rất coi trọng đạo đức và lý tưởng…”

“Thôi dẹp đi, một người Mỹ như mày mà cũng xứng nói chuyện cống hiến với người Trung Quốc bọn tao à?” Anh rể cả ngắt lời Nam Bắc. Hắn vừa hút thuốc vừa khiến căn phòng toả khói mù mịt: “Ông cụ thiên vị mày nhất, những năm qua chẳng biết đã tiêu tốn bao nhiêu tiền lên người mày rồi, giờ mày lại nói chuyện đạo đức với bọn tao? Lê Dữ Thời, mày mới chính là đứa vô đạo đức nhất đấy! Biết đâu mày đã dỗ ngon dỗ ngọt để ông cụ chia chác hết đồ đạc cho mày từ sớm rồi, giờ mày giả bộ làm người tốt, đòi quyên với chả góp. Tao nói cho mày biết, ở đây không ai đồng ý với mày đâu!”

Nam Bắc khoanh tay lạnh lùng nhìn anh rể cả.

Lê Dữ Tường là anh hai của Nam Bắc, sau khi tốt nghiệp thì làm việc ở nhà máy điện. Bình thường anh ta ít nói nhưng tính tình rất tệ, lúc nào cũng cảm thấy cái này có lỗi với mình, cái kia có lỗi với mình, điểm này rất giống chị cả Lê Dữ Tĩnh. Anh ta bị vợ đẩy một cái, ý bảo hãy lên tiếng đi.

“Dữ Thời, cô cũng đừng có gào thét nữa. Nói cho cùng, cô là con gái, sớm muộn gì cũng là người gả đi thôi. Cái nhà này, ông cụ mất rồi thì người làm chủ phải là anh hai em.” Chị dâu hai bĩu môi, nhìn cô một lượt từ trên xuống dưới: “Bọn chị đều nghe nói cô sang Mỹ giao du với bọn tây đen tây trắng mà phát tài rồi. Trong tay nhiều tiền như thế mà giờ còn tranh giành đồ đạc với anh chị mình, truyền ra ngoài thì danh tiếng nhà họ Lê có nghe lọt tai được không?”

Mặt Nam Bắc lạnh như sương: “Ở đây ai là anh hai tôi? Có không? Tôi chỉ có một người anh hai thôi, anh ấy tên là Chương Vọng Triều.”

Câu nói này khiến mọi người nổ tung, vô cùng phẫn nộ. Những chuyện giữa cô và nhà họ Chương chắc hẳn họ cũng đã từng nghe qua ít nhiều. Lê Dữ Tường nhìn cô u ám, nói: “Mày nói lại lần nữa xem?”

Nam Bắc chẳng hề sợ hãi: “Anh không xứng làm anh hai tôi.”

Lê Dữ Tường lập tức tát cô một cái, đánh cô loạng choạng, ngã nhào xuống, trán đập vào cạnh bàn trà, lập tức sưng vù một cục lớn.

Đầu óc cô ong ong, máu mũi cũng chảy ra. Cô quệt một cái, máu vẫn cứ chảy, chẳng có lấy một người đỡ cô dậy, ai nấy đều lạnh lùng đứng nhìn. Chị dâu nói: “Đúng là phải để anh hai cô dạy bảo cô một trận, xem cô ngông cuồng đến mức nào. Cô đã nói mình họ Chương thì càng không đến lượt cô quản chuyện nhà họ Lê!”

Nam Bắc bỗng cười lên. Những ngày qua gương mặt cô tiều tụy, trắng bệch, càng làm nổi bật màu máu đỏ tươi.

“Tốt, tốt lắm. Đúng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Tôi nói cho anh biết, và cả chị nữa,” Nam Bắc nhìn anh hai rồi lại nhìn chị cả: “Hai người lúc nào cũng cảm thấy cha mẹ nợ mình, ai cũng có lỗi với mình, đến xã hội cũng có lỗi với mình. Hai người đừng quên, ngày xưa ở trường học hai người đã từng phê đấu thầy giáo, cũng phê đấu cả cha mẹ nữa. Để vạch rõ giới hạn với họ, hai người đã làm những chuyện gì, trong lòng hai người tự hiểu rõ. Chỉ là không ngờ chính các người sau này cũng phải đi xuống nông thôn, giờ lại rêu rao mình mới là nạn nhân của phong trào. Thật nhảm nhí! Lúc nào cũng chỉ thấy mình vô tội, đương nhiên hạng người như hai người sẽ không bao giờ biết tự vấn đâu. Đối với cha mẹ có mấy phần chân tâm, trong lòng các người không rõ sao? Đừng có ra vẻ hiếu thảo trước mặt tôi, những lời các người nói chẳng khác gì tiếng chó sủa đâu!”

“Lê Dữ Thời, mày đúng là đồ súc sinh!” Chị cả hét toáng lên, trong phòng bắt đầu nổ ra cuộc tranh cãi kịch liệt. Sau đó, đang cãi vã, hai cặp vợ chồng lại bắt đầu quay sang chỉ trích lẫn nhau: người này bảo người kia tham, người kia bảo người này lậm, cuối cùng thì thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Đàn ông thì đấm đá, đàn bà thì cào cấu nhau. Trong mắt Nam Bắc hiện lên một sự trống rỗng sâu hoắm. Cô bị chị dâu cào một vết từ chân mày xuống, một vệt dài đỏ lựng trên mặt.

Tiếng động quá lớn khiến hàng xóm phải báo cảnh sát. Người của đồn cảnh sát đưa mấy người họ về đồn để hỏi chuyện. Ở đồn cảnh sát, những người này lại tiếp tục cãi vã, khiến đồng chí cảnh sát tức giận đập bàn: “Có biết đây là chỗ nào không hả?!”

Nam Bắc đứng một mình trong góc. Cô rất mệt mỏi, cục sưng trên trán đã chuyển sang màu đỏ tím, mặt cũng nóng rát. Cô thấy hoang mang, không hiểu tại sao lại thành ra như thế này. Cô đã thấy quá nhiều hình thái của nhân tính, vốn chẳng thấy gì làm lạ, nhưng những người này lại chính là người nhà của cô, thật quá hoang đường, quá nực cười. Cảnh sát hỏi chuyện, cô hễ vừa mở miệng là bị những người này ngắt lời, khiến đồng chí cảnh sát phải liên tục cảnh cáo.

Những vụ tranh chấp gia đình như thế này, cảnh sát dường như cũng đã quá quen mắt. Người già vừa mất, con cái vì lợi ích mà tranh giành sống chết. Nhưng kiểu chết rồi mà quyên góp sạch sành sanh đồ đạc như thế này thì đúng là hiếm thấy.

Đồn cảnh sát cũng bị cái gia đình này quậy cho gà bay chó chạy, bàn làm việc bị đập rầm rầm mấy lần. Cô đau đầu kinh khủng, đồng chí cảnh sát bảo hay là cô cứ tới bệnh viện kiểm tra xem có sao không.

“Đồng chí cảnh sát, cô ta dựa vào đâu mà được đi hả? Cô ta không được đi!” Chị dâu gào lên.

Nam Bắc không đi, cô ngồi trên ghế, phối hợp với đồng chí cảnh sát làm biên bản. Dù sao thì chuyện này nhất thời cũng không thể hòa giải ngay được. Lúc từ đồn cảnh sát bước ra, gió nổi lên lạnh buốt.

Khi bước xuống bậc thang, cô thấy ở chỗ phòng bảo vệ có người đang hỏi chuyện ông lão gác cổng. Cô chỉ lướt nhìn qua cái bóng thôi cũng đã biết, là anh ba tới rồi.

Sao anh lại đột nhiên tới đây chứ? Chuyện này thật quá kỳ quái.

Nam Bắc nheo nheo mắt, cô nhìn Chương Vọng Sinh sải bước đi tới. Rõ ràng là Chương Vọng Sinh cũng đã nhìn thấy cô. Anh bước đến trước mặt, nhìn thấy bộ dạng của cô, liền hỏi mấy người kia: “Trong số các người, là ai đã đánh cô ấy?”

Mấy người đó đều quay mắt lại nhìn anh, Lê Dữ Tường hỏi: “Mày là thằng nào?”

Chương Vọng Sinh nói: “Tôi hỏi các người, có phải có người đã đánh cô ấy rồi không?”

Lê Dữ Tường nhìn anh vài cái: “Mày là cái thá gì chứ? Tao đánh đấy, tao là anh nó, thì sao nào?”

Chương Vọng Sinh hỏi lại: “Anh đánh sao?”

Lê Dữ Tường mất kiên nhẫn: “Tao đánh đấy, rốt cuộc mày là thằng chó nào hả?”

Anh gật đầu: “Tôi là Chương Vọng Sinh.” Nói xong, anh vung một cú đấm tới, khiến Lê Dữ Tường miệng đầy máu tươi.



Loading...