Ký Sự Nguyệt Hoè Thụ - Tung Hổ Khứu Hoa

Chương 47


Chương trước Chương tiếp

Mùa xuân năm 1978, Nam Bắc đến Bắc Kinh học đại học, cô theo học chuyên ngành tiếng Anh thuộc khoa ngoại ngữ phương Tây. Lê Quân Hồng cực kỳ vui mừng, ông cảm thấy con gái rất biết nỗ lực, và thực tế đúng là như vậy. Hai vợ chồng cùng đi tàu hỏa tiễn cô đến trường. Đến Bắc Kinh, họ cùng nhau đi tham quan các danh lam thắng cảnh, vào nhà hàng dùng bữa. Nam Bắc tràn đầy tham vọng, cảm thấy tương lai phía trước vô cùng xán lạn.

Bạn học của cô có sự chênh lệch tuổi tác rất lớn, họ đến từ mọi tầng lớp xã hội. Có người đã lập gia đình, có người phải đi tham gia đội sản xuất ở nông thôn nhiều năm. Tuổi của cô là đẹp nhất, khiến những người lớn tuổi hơn phải ghen tị, nói cô chẳng lãng phí chút thời gian nào, sinh ra đúng thời thế. Nam Bắc thầm nghĩ: Ai mà chẳng từng chịu đựng khổ cực cơ chứ? 

Cô nhanh chóng thích nghi như cá gặp nước trong khuôn viên trường. Không giống những người khác vùi đầu vào việc học tập, cô sống thật khoan khoái và tận hưởng. Cô cảm thấy ánh mặt trời mỗi ngày đều rất rực rỡ, vừa phải học tập, vừa phải sống. Bóng dáng cô xuất hiện trong các tiết học của nhiều khoa khác nhau, cô đi dự thính khắp nơi, cũnh thích mạnh dạn bày tỏ quan điểm. Vì năm 1978 đã đề ra tư tưởng giải phóng, mọi người đều rất nhiệt huyết, hăng hái thảo luận sôi nổi về vấn đề thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, bắt đầu suy ngẫm sâu sắc lại về mười năm đã qua.

Tháng tám năm 1978, một sinh viên khoa Trung văn trường Đại học Phục Đán công bố truyện ngắn Vết sẹo. Mọi người cùng đọc và tụ tập lại để thực hiện một cuộc thanh toán và phê phán quá khứ. Nam Bắc cùng các bạn khoa Trung Văn lập thi xã*, làm tạp chí. Cô cùng các bạn khoa Kinh tế phổ nhạc, sáng tác ca khúc. Cô còn sang khoa Triết học nghe thầy giáo giảng về Freud, về chủ nghĩa hiện sinh. Tất cả những điều này thật mới mẻ, thật chấn động. Trong lúc mảnh đất này còn mải mê với các cuộc đấu tranh, cải tạo lao động, thì hóa ra ở phương Tây xa xôi, giới tư tưởng đã tranh luận không ngớt về vấn đề liên quan đến Iosif Vissarionovich Stalin. Điều này khiến Nam Bắc vô cùng kinh ngạc.

*Thi xã là nơi các thi nhân định kỳ tụ họp để cùng nhau ngâm vịnh thơ.

Vào năm 1979, cô đọc được cuốn Phê phán triết học phê phán – Khảo luận về Kant của Lý Trạch Hậu. Mọi người đều rất quan tâm đến cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội. Các sinh viên đại học nói riêng và giới tri thức nói chung đã có mục tiêu phê phán của riêng mình. Nhưng điều khổ tâm là thứ vũ khí vốn dùng để phê phán trước đây, giờ lại trở thành đối tượng cần bị phê phán; thuyết giai cấp của chủ nghĩa Marx bị mọi người phủ định mạnh mẽ.

“Vậy thì nên quan tâm đến bản thân con người, đứng trên lập trường con người, chủ nghĩa nhân đạo.” Nam Bắc phát biểu đầy hào hứng trong cuộc thảo luận. Các bạn học rất đồng tình, họ đều biết cô là một cô gái xinh đẹp biết hát, biết khiêu vũ, giỏi giao tiếp, lại có kiến kiến thức và tư tưởng. Mọi người đều có ấn tượng đặc biệt tốt đẹp về cô.

Người duy nhất phản bác cô là Phùng Trường Canh, sinh viên khoa Chính trị quốc tế khóa 78. Cậu ta đã cao hơn nhiều, cũng gầy đi, hoàn toàn mang dáng dấp của một thanh niên. Cậu ta đã đổi lại theo họ cha, triệt để rời bỏ Nguyệt Hòe Thụ. Đã mấy năm Nam Bắc không gặp cậu ta, cô nhận ra ở Phùng Trường Canh có một điểm chắc chắn không đổi, đó là luôn thích hát đối với cô.

Nam Bắc mỉm cười: “Vậy cậu nghĩ chính sách sau này nên dựa trên cơ sở nào?”

Phùng Trường Canh nói: “Tôi không biết, nhưng chủ nghĩa nhân đạo mà cậu nói chẳng có gì lạ lẫm cả. Từ mấy trăm năm trước, trước khi phương Tây phát triển chủ nghĩa tư bản, những tư tưởng này đã được dùng để làm trụ cột rồi. Cậu nói những điều này là hy vọng đất nước chúng ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa sao?”

Lúc bấy giờ, phong trào thơ ca trong trường cực kỳ sôi động. Rất nhiều người yêu thích viết thơ, đọc thơ. Mọi người tích cực sử dụng ngôn ngữ mới, không còn là kiểu biểu đạt mang tính khẩu hiệu, cứng nhắc và đồng nhất như trước kia. Cảm giác này rất tuyệt, mỗi người đều cảm thấy tầm mắt mình được mở mang, như đang bước vào một thế giới mới.

Họ khó có thể tưởng tượng được rằng chỉ mới ba năm trước, những từ ngữ này hoàn toàn không thể được thảo luận ở nơi công cộng.

Nam Bắc nói: “Chủ nghĩa tư bản chẳng lẽ không có kinh nghiệm gì đáng để học hỏi sao? Bạn học Phùng, cậu không cần phải vừa nghe đến chữ ‘tư’ đã biến sắc như vậy. Con người hay quốc gia đều phải không ngừng đổi mới và tiến bộ trong quá trình tìm tòi khám phá.”

Cô nghe nói Phùng Trường Canh cũng rất hoạt bát trong trường. Cậu ta trở nên hoạt ngôn, tự tin, không còn là đứa trẻ tranh giành củi ngày nào với cô nữa.

Đợi các bạn học tản đi hết để đến nhà ăn, Phùng Trường Canh bước đến trước mặt Nam Bắc nói: “Cậu yên tâm, tôi sẽ không nói với bất kỳ ai về chuyện quá khứ của cậu đâu.”

Nam Bắc nhạo báng: “Chuyện quá khứ? Quá khứ thì làm sao, tôi của quá khứ đã giết người hay phóng hỏa à?”

Phùng Trường Canh nói: “Bây giờ cậu rất được săn đón, tôi vừa nhập học đã nghe người ta nhắc đến cậu. Ý tôi là, nếu người ta biết chuyện cậu ở Nguyệt Hòe Thụ trước kia, e rằng sẽ tổn hại đến hình tượng của cậu. Tôi sợ cậu lo lắng tôi sẽ kể với người khác nên mới nói một tiếng.”

Nam Bắc cười lạnh: “Cậu thích nói thì cứ việc nói, tôi chẳng có gì phải giấu giếm cả. Phùng Trường Canh, cậu thật sự quá vô vị đấy. Bao nhiêu năm rồi mà cậu vẫn thích xen vào chuyện của tôi, cậu thích tôi phải không?”

Phùng Trường Canh không lên tiếng.

Nam Bắc bỗng nhiên bật cười một tràng dài, cô chẳng mảy may quan tâm người khác nhìn mình thế nào.

“Cậu bỏ cuộc đi, tôi hoàn toàn không có hứng thú với hạng người như cậu. Chúng ta cũng coi như người quen cũ, biết rõ gốc gác của nhau rồi, cậu cứ lo mà học hành tử tế đi.”

Phùng Trường Canh như đã rất quen với việc này: “Cậu không muốn biết chuyện về những người quen cũ ở Nguyệt Hòe Thụ sao?”

Nam Bắc vô cảm: “Không muốn, chẳng liên quan gì đến tôi cả.”

Phùng Trường Canh nói: “Vậy thì chúng ta đúng là biết rõ gốc gác của nhau thật, đều sắt đá như nhau.”

Nam Bắc lại không nhịn được mà cười lớn: “Phùng Trường Canh, cậu đừng có tự luyến nữa. Lúc nào cậu cũng thích dát vàng lên mặt mình. Bao nhiêu năm rồi cậu vẫn không hiểu rõ, chúng ta không giống nhau, bây giờ càng không giống. Cậu cùng lắm chỉ là một trong số rất nhiều người ái mộ tôi mà thôi, không nổi bật cũng chẳng đặc biệt, cậu tự luyến cái nỗi gì chứ?”

Cô muốn cười là cười, nhưng nụ cười ấy đôi khi đột ngột dừng lại như thể phanh gấp bên bờ vực, gương mặt trở nên trầm uất. Điểm này, không ai có thể hiểu được.

Bị Nam Bắc nói cho không nể nang mặt mũi chút nào, Phùng Trường Canh cũng hiểu cô chính là như vậy, cô là đóa hồng đầy gai, ngay cả nh** h** cũng làm từ gai.

Khoa nào cũng có nam sinh quen biết cô, người ta săn đón cô, tôn sùng cô. Cô giống như nữ hoàng Anh, nơi nào cũng là lãnh địa của cô. Cô lúc thì ôn hòa gần gũi, lúc lại vô cùng lạnh lùng khiến người ta rất khó nắm bắt. Cô cởi mở nhưng đồng thời cũng cô độc. Cô luôn xuất hiện ở những nơi công cộng, chẳng hề nhút nhát, nhưng chưa từng thấy cô thực sự thân thiết với ai. Cô có thể đàm luận sôi nổi với bất kỳ người nào, nhưng khi đối phương nảy sinh ảo tưởng, cô lập tức bày tỏ thái độ không thể mạo phạm. Các bạn học cảm thấy chưa từng gặp ai mâu thuẫn như vậy.

Phùng Trường Canh từng nhìn thấy cô từ xa, cô ngồi trên bãi cỏ đàm đạo hăng say với một nhóm người. Trên người cô là một chiếc váy rất độc đáo, trong cả trường không có người thứ hai mặc. Sau này mới biết là cô nhờ thợ may làm theo phong cách minh họa trong các tác phẩm kinh điển của Nga. Cô có một người cô ở lại Mỹ, từ năm 1978, các cuộc thăm hỏi giữa Trung Quốc và Mỹ trở nên thường xuyên, có lẽ họ đã liên lạc được với nhau. Điều kiện vật chất của Lê Dữ Thời nổi tiếng là giàu có trong trường.

Năm xưa, gia đình Lê Quân Hồng chỉ vì bị lục soát thấy mấy bức thư liên lạc với em gái mà trở thành bằng chứng thép cho tội thông đồng với nước ngoài, tội chồng thêm tội, không biết đã phải chịu bao nhiêu khổ cực. Thời thế đổi thay, có người thân ở Mỹ lại trở thành một chuyện vô cùng thời thượng và khiến người ta ngưỡng mộ.

Đến mùa đông, Nam Bắc mặc lên mình chiếc áo khoác lông cừu mới may, cô soi gương, cầm một thỏi son lên trang điểm, ngoài ra cô cũng thích đi giày cao gót. Cô viết thư cho mẹ, khuyến khích Trần Sính Đình cũng nên trưng diện. Đôi khi, cô cũng nối cuộc gọi thoại quốc tế tới người cô ở Mỹ. Người cô ở đầu dây bên kia rất thích kể chuyện vụn vặt, nào là đồ ăn ở khu Chinatown không đúng vị, Giáng sinh lại đổ tuyết lạnh lắm, hàng xóm người Do Thái tặng đồ mà không biết nên đáp lễ thế nào cho phải… Nam Bắc hỏi: “Ở Chinatown có bán đồ ăn Trung Quốc không ạ?”

Người cô nói: “Nhiều lắm, nhưng dù sao cũng không ngon bằng ở nhà. Cha cháu có gửi cho cô ít đồ hộp, cô rất thích ăn. Cháu ở trường có tốt không?”

Nam Bắc nắm chặt điện thoại: “Rất tốt ạ, mọi người đều rất chịu khó, không khí học tập rất đậm nét, chúng cháu thường xuyên tụ tập thảo luận các vấn đề.”

Người cô cười nói: “Người Trung Quốc mình vốn dĩ rất chịu thương chịu khó mà, đi đâu cũng vậy. Khổ thì cũng chịu đủ rồi, hy vọng thế hệ các cháu sau này không phải chịu khổ nữa.”

Năm 1980, người cô bên Mỹ về nước thăm người thân, mang theo rất nhiều đồ đạc. Vừa gặp Lê Quân Hồng, hai anh em đương nhiên ôm nhau khóc nức nở. Bởi vì đôi lông mày rậm của người anh đã bị thời gian nhuộm trắng, bọng mắt lộ rõ, lúc nào cũng như chứa chan nước mắt. Người cô hỏi thăm bạn học cũ, biết người đó đã chết vì xuất huyết não khi bị đưa xuống trường cán bộ lao động cải tạo, lại một hồi than vãn. Nhưng rất nhanh sau đó, bà lại vui vẻ nói về chuyện đi du học của Nam Bắc. Vì chỉ tiêu được nhà nước cử đi học tập quá ít, cạnh tranh rất lớn, không kém gì kỳ thi đại học năm 1977. Người cô nói đi theo diện tự túc cũng được, ra ngoài bôn ba một chuyến mới biết nơi này và bên ngoài chênh lệch lớn thế nào.

Vì cô thông minh, cả nhà đều thiên vị cô, khiến chị cả và anh hai đều rất bất mãn. Chị cả không thi đỗ đại học mà học sư phạm, không phải tiêu tiền nhà nên rất tự hào, nhưng nghe cô nói chuyện du học, lòng cô ấy lại trở nên mất cân bằng. Tiếng cười trong phòng khách khiến người ta khó chịu, chị cả chua chát hỏi cô về việc đi du học rốt cuộc tốn bao nhiêu tiền, Nam Bắc đáp: “Dù tốn bao nhiêu tiền thì bản thân cũng có thể tìm cách tự kiếm mà. Con người có tay có chân, nước Mỹ đâu đâu cũng là cơ hội, chẳng lẽ lại để người sống chết đói sao?”

Chị cả nói: “Em đừng có tinh tướng, đã tới Mỹ bao giờ đâu. Quốc gia tư bản dù tốt đến mấy cũng không bằng chủ nghĩa xã hội, sang đó chịu khổ thì đừng có hối hận.”

Nam Bắc nói: “Em cũng đâu phải chưa từng chịu khổ. Vả lại, khổ hay không, chị hỏi cô chẳng phải là rõ rồi sao?”

Thấy hai người sắp cãi nhau đến nơi, người cô giảng hòa: “Đôi khi cũng nhớ nhà lắm, những năm qua cô luôn rất lo lắng cho mọi người. Năm đó New York tuyết rơi lớn, cô một mình đi dưới những tòa nhà cao tầng, tự nhiên lòng thấy trống trải, nghĩ không biết mọi người thế nào rồi, sống có tốt không, không liên lạc được, thật sự rất sợ hãi. Cô thực sự sợ rằng đến lúc có thể quay về, người ta lại nói với cô rằng nhà cháu chẳng còn ai nữa.”

Người cô lau nước mắt, Nam Bắc đang xoay quả địa cầu dưới tay, ngẩn ra một thoáng, rồi cô cùng cha mẹ an ủi bà. Chị cả lại bĩu môi khinh bỉ lời người cô nói rằng, cô ở dưới tòa nhà cao tầng thấy trống trải, đâu có biết chúng cháu ở trường cán bộ lao động cải tạo hằng ngày phải tiếp xúc với phân với nước tiểu.

Năm 1981, Nam Bắc giành được suất đi du học theo diện cử đi của nhà nước, điều này không hề dễ dàng. Khi đó, cơn sốt ra nước ngoài đã bắt đầu rộ lên. Trước khi đi, cô vẫn thích chạy lăng xăng qua các khoa để nghe giảng.

Khoa Trung văn là nơi nhộn nhịp nhất, cũng là nơi hay chơi trội nhất, vì họ có nhiều nhà thơ. Khi mới vào trường, giáo trình chưa kịp cập nhật, vẫn còn lẫn lộn những thứ thời kỳ Công Nông Binh, nhưng đến lúc này, nhóm người ấy đã chẳng còn gì là không dám bình luận nữa.

Nam Bắc cũng giống như mọi người, tay bưng khay cơm, chen chúc trong đám đông xem những bài thơ mới in roneo* dán trên tường. Cô cũng không biết mình chen lấn cái gì, tóm lại là náo nhiệt, từ nhỏ cô đã thích náo nhiệt, cứ nơi nào đông người là cô lại sà vào. Lớp học khoa Trung văn vô cùng tự do, những sinh viên lớn tuổi được phép hút thuốc ở cuối lớp, phong khí thực sự rất cởi mở.

*In roneo (quay ronéo) là kỹ thuật in ấn thủ công phổ biến trước thời máy photocopy, sử dụng giấy sáp (stencil) và máy q*** t** để sao chép tài liệu. Quy trình gồm đánh máy lên giấy sáp, căng khuôn lên trục máy, bôi mực và q*** t** từng tờ, đặc biệt phổ biến trong văn phòng/trường học giai đoạn 1950-1980.

Các tiết học khoa Trung văn cũng rất được ưa chuộng, đâu đâu cũng thấy toàn người là người. Thầy giáo vô cùng nhiệt tình, có lẽ vì đã bị kìm nén nhiều năm không được truyền đạo thụ nghiệp, đôi khi còn chạy vào ký túc sá sinh viên để giảng bài. Bạn không muốn học thì kiến thức cũng cứ thế xông thẳng vào tai một cách hung hãn. Nam Bắc ngồi phía dưới, bỗng nhiên cảm thấy thầy giáo rất giống Lý Khoát Tử lúc kể chuyện, bao nhiêu con người đều khao khát như thể đã bỏ đói tám trăm năm mà nhìn chằm chằm vào thầy.

Cô không hiểu sao mình lại nhớ đến Lý Khoát Tử, dưới ánh trăng, một Lý Khoát Tử hiện lên với đôi mắt đen ngòm như hai cái hố.

Có lẽ ông ấy đã chẳng còn tồn tại trên đời nữa.

Nam Bắc vốn đang trò chuyện phóng khoáng với những người xung quanh, bỗng nhiên cô lạnh mặt, chẳng nói lời nào nữa mà đợi thầy giáo lên lớp.

Vị giáo sư này gần đây đang giảng về văn học Nga, tác phẩm là Chàng ngốc của Dostoevsky. Thầy giáo rất tâm huyết, tay cầm mẩu phấn, vừa đọc vừa giảng, còn dùng tiếng Nga đọc một đoạn nguyên văn để mọi người cảm nhận ngữ điệu.

“Tôi… Nastasya Filippovna… tôi yêu em. Tôi có thể chết vì em, Nastasya Filippovna. Tôi không cho phép bất kỳ ai nói xấu em, Nastasya Filippovna… Nếu chúng ta nghèo khó, tôi có thể làm việc, Nastasya Filippovna.” 

Nam Bắc ngồi phía dưới đọc lại một lần nữa cuốn Chàng ngốc, cô đọc một hồi rồi gấp sách lại, không đọc tiếp được nữa. Trong quá khứ, cô cũng từng có thể chết vì một người.

“Các vị ngồi đây có phải đều cảm thấy mình trong quá khứ là nạn nhân không?” Thầy giáo nhìn quanh và nói: “Ở đây không có ai là Công tước cả. Tôi có một người đồng nghiệp, anh ta từng kiên quyết vạch rõ ranh giới với người mẹ già xuất thân địa chủ của mình, trơ mắt nhìn người mẹ góa bụa qua đời. Sau đó, chính anh ta cũng bị đưa xuống trường cán bộ lao động cải tạo, chịu rất nhiều khổ cực. Mỗi khi nhớ lại những chuyện này, anh ta rất đau đớn, anh ta nói anh ta luôn nghĩ mình bị oan ức, bi thảm, nhưng hễ nghĩ đến mẹ mình là lại vô cùng hối hận. Anh ta có thực sự trong sạch không? Câu hỏi này xứng đáng để tất cả chúng ta ngồi đây phải suy ngẫm thật kỹ. Một người hoàn toàn trong sạch, nhân từ, các bạn nghĩ có tồn tại không? Giống như Công tước, anh ta mang trong mình tình yêu lớn lao của Đấng Christ, một người hoàn toàn trong sạch như vậy rốt cuộc có tồn tại trong thực tế không? Tại sao một người như vậy cuối cùng lại chỉ có thể trở thành một kẻ ngốc thực sự?”

Nam Bắc bị nhấn chìm trong đủ loại âm thanh, cô không biết thầy giáo và các bạn học bắt đầu sôi nổi thảo luận từ bao giờ. Đợi mọi người nói xong, cô đột ngột đứng dậy, nói lớn: “Có, trên đời có người như Công tước.”

Rất nhiều người phản bác cô.

“Đó chỉ là nhân vật trong văn học thôi. Đương nhiên, ở Nga có lẽ sẽ có, vì họ có truyền thống Chính thống giáo, họ chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nó, sức mạnh của tôn giáo là rất cuồng nhiệt. Nhưng truyền thống của chúng ta là trung chính ôn hòa, nghèo thì lo tốt thân mình, nếu ngay cả bản thân còn không bảo toàn nổi mà bàn chuyện yêu thương người khác, giúp đỡ người khác thì thật nực cười.”

Nam Bắc ôm chặt cuốn sách: “Đó là vì cậu chưa từng nhìn thấy, không thể vì bản thân cậu chưa từng thấy mà nói là không có. Hoặc là may mắn từng thấy rồi, nhưng cậu lại không muốn thừa nhận, bởi vì tình yêu của anh ta là tình yêu bình đẳng, nhưng con người ai cũng muốn được thiên vị chứ không phải một tình yêu bình đẳng.”

Người khác cười hỏi cô: “Bạn học Lê này, cậu đã từng thấy ai giống như Công tước chưa?”

Lồng ngực Nam Bắc như bị thiêu đốt: “Phải, tôi đã từng thấy, tôi đã thấy một kẻ ngốc như vậy.” Không hiểu sao cô càng nói càng kích động: “Có người chính là như vậy đấy, điều này chẳng hề nực cười chút nào.” Đôi tay cô cũng vung vẩy theo: “Có người tới chính cuộc sống của mình còn rối tinh tối mù, thế mà lại vẫn muốn lo cho người khác. Ngay cả đến sự sống chết của một con chim anh ta cũng muốn quản. Anh ta không chỉ yêu mọi người một cách bình đẳng mà có lẽ đến cả con heo trong chuồng anh ta cũng yêu thương. Bạn chẳng thể hiểu nổi anh ta đang nghĩ gì, đầu óc anh ta dường như chỉ toàn chất chứa người khác. Không, anh ta luôn có thể dễ dàng nhìn thấu nỗi khổ của người khác. Bạn bảo anh ta đừng đi lo chuyện bao đồng, anh ta vẫn cứ đi, chuyện không liên quan đến mình anh ta cũng xông vào. Anh ta từng cứu một con nhạn lạc đàn, chăm sóc nó như chăm sóc trẻ nhỏ. Anh ta còn nói, lúc đói kém người ta ăn thịt cả chim bói cá, chim bói cá đẹp đến thế, anh ta cứ nghĩ đến con chim bói cá đó là có thể rơi nước mắt. Anh ta bị người ta hãm hại thê thảm, nhưng anh ta vẫn có thể nhìn thấu cảm xúc của người bên cạnh, lúc nào cũng vậy, như thể mọi người đều mù cả, chỉ có mình anh ta là có đôi mắt sáng ngời. Tôi không biết anh ta làm cách nào, tại sao anh ta lại kỳ lạ như vậy, giống như tôi không thể hiểu nổi nhân vật nam chính của tác phẩm đại văn hào này. Các bạn nói đúng, hạng người như vậy sẽ không có kết cục tốt đẹp. Tôi có thể khẳng định, anh ta không có kết cục tốt đẹp, vì anh ta là kẻ ngốc. Anh ta ảo tưởng muốn cứu vớt tất cả, anh ta tưởng mình là ai cơ chứ? Anh ta chẳng là gì cả, chỉ là một kẻ phàm thôi!”

Cô run rẩy không thôi, cả người rơi vào trạng thái phát cuồng. Giảng đường lớn im phăng phắc, tất cả mọi người đều nhìn Nam Bắc. Cô run cầm cập lật sách, vẫn muốn nói tiếp: “Tôi biết một kẻ ngốc như vậy nhưng không có nghĩa là tôi đồng tình với anh ta. Ngược lại, tôi cảm thấy anh ta rất giả tạo, giống như trong sách đã nói.” Cô nâng cuốn sách lên, nước mắt từ trong mắt trào ra thành dòng: “Công tước, cô ấy sẽ không tha thứ đâu! Tình yêu của Aglaya dành cho ngài là tình yêu của một người phụ nữ, cô ấy là một con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải là… một linh hồn trừu tượng. Ngài có biết không, vị Công tước đáng thương của tôi; rất có thể, ngài chẳng yêu người này, cũng chẳng yêu người kia, từ trước đến nay ngày chưa từng yêu bất kỳ ai cả!”

Cô vừa đọc vừa cười lớn, vô cùng thất thố. Đã mấy năm rồi cô không khóc, đến nỗi không nhận ra nước mũi, nước mắt đã giàn dụa cả ra.

“Thưa thầy, các bạn học, các vị ngồi đây, cho nên quan điểm của tôi về nhân vật này chính là: anh ta là kẻ đạo đức giả nhất, vô đạo đức nhất, mọi người đừng để bị anh ta đánh lừa! Anh ta chỉ yêu bản thân mình mà thôi, anh ta chưa từng yêu bất kỳ ai cả. Nói cái gì mà tính thần thánh? Một con người, anh ta chỉ là một con người thôi, không phải thần thánh. Cuối cùng anh ta trở thành một kẻ ngốc thực sự, đó là sự trừng phạt xứng đáng cho tội lỗi của anh ta, đó là lỗi của anh ta, tất cả đều là lỗi lầm của anh ta!”

Các bạn học ngơ ngác nhìn cô, mọi người đều đứng dậy, nghiêng người tìm xem dáng vẻ của cô. Cô đẹp như thế, nhưng gương mặt lại méo xệch đi. Lời cô nói mâu thuẫn trước sau, điên đảo, lộn xộn xằng xiên, chẳng ai hiểu rõ cô rốt cuộc muốn diễn đạt điều gì. Cô dường như đang ca ngợi Công tước, nhưng lại chỉ trích, phủ nhận anh ta một cách quyết liệt. Dường như giây phút tiếp theo cô có thể chui tọt vào trong sách, lôi Công tước ra để phê đấu một trận.

Cô thẫn thờ ngồi thụp xuống rồi ngẩng mặt lên, phát hiện có một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng, đeo kính cũng đang nhìn mình. Anh ngồi đó, trông rất trẻ, nhưng hình như lại không trẻ lắm. Cũng không biết là người ngoài xã hội đến dự thính hay là sinh viên của trường, vì ở trường này, gặp những sinh viên ba mươi tuổi hay thậm chí lớn tuổi hơn cũng không phải chuyện hiếm.

Ánh mắt hai người chạm nhau, nhưng vô cùng xa lạ. Nam Bắc hoàn toàn không nhận ra anh là ai. Cô lại cúi đầu xuống, có một bạn học tốt bụng đưa cho cô chiếc khăn tay. Cô nắm chặt chiếc khăn, một lúc sau mới lại ngẩng mặt lên nhìn người đó.



Loading...