Ngày thứ ba. Tuyết ngừng.
Trong ngõ Thanh Thủy lạnh ngắt. Sáng sớm, Tần Nghị mang theo bốn tên thuộc hạ đẩy cửa bước vào căn viện của Tô Mạt. Trên tay gã cầm một tờ công văn của phủ Thuận Thiên, mực dấu còn chưa khô hẳn.
“Tiệm lụa của cô nương mượn danh nghĩa vận chuyển vải vóc để giúp Tiêu cục Minh Đạt tẩu tán số quân lương ăn chặn ra ngoại tỉnh. Chứng cứ tàng trữ tang vật quốc khố đã lập xong. Mời đi một chuyến.”
Tô Mạt tựa lưng vào thành giường, sắc mặt nhợt nhạt vì kiệt sức nhưng ánh mắt vô cùng tỉnh táo. Nàng không nhìn tờ công văn trên tay kẻ kia, chỉ cúi xuống nhìn ngón tay mình:
“Đi một chuyến là đi đâu? Vào đại lao chờ thẩm vấn hay là ra ngoại ô Kinh thành để diệt khẩu trước khi Đại lý tự tiếp nhận hồ sơ?”
Tần Nghị nhướng mày, tay gã đặt lên đốc kiếm. Gã biết rõ mật lệnh của Tể tướng là phải tiêu hủy toàn bộ sổ sách vận tải của Tiêu cục Minh Đạt và giết Tô Mạt để đóng lại vụ án ba mươi vạn thạch quân lương mãi mãi. Nhưng gã còn chưa kịp rút kiếm thì tiếng bước chân đều đặn, dồn dập từ ngoài sân đã truyền vào.
Đại Lý Tự Khanh cùng Ngự lâm quân bước vào phòng, trong tay cầm kim bài thượng phương.
“Tần Nghị. Phụng ý chỉ của Thánh thượng, Tể tướng cấu kết với quan chức vận tải đường thủy, tráo đổi quân lương biên quan để trục lợi, chứng cứ đều đầy đủ. Hiện phủ Tể tướng đã bị niêm phong, lập tức giải toàn bộ Kinh Vệ quân thuộc quyền quản lý của ngài trở về chờ thẩm vấn.”
Tần Nghị đứng chết trân. Thanh kiếm rút ra khỏi vỏ một nửa, cuối cùng đành chậm rãi đẩy trở vào. Ở kinh thành, đại thế đã mất, rút kiếm đồng nghĩa với việc tự tay đẩy cả gia tộc vào tội chu di. Gã giơ hai tay, để mặc cho quan sai áp giải đi.
Bùi Việt bước vào sau cùng. Hắn mặc một bộ thường phục màu đen, vạt áo còn dính bụi đường, không có chiến giáp oai hùng, không có ngựa sắt hộ tống. Ba ngày qua, hắn suy đi tính lại, quyết định tìm cách mang ba cuốn sổ của Tô Mạt đến tay Ngự sử đài và Đại lý tự để đồng loạt dâng sớ lúc triều sớm.
Ba mươi vạn thạch quân lương không tự nhiên biến mất trên đường vận chuyển. Thực tế, số lương thực này chưa từng rời khỏi Kinh kỳ.
Thông qua mạng lưới Tiêu cục Minh Đạt, Tô Mạt đã phát hiện ra một lỗ hổng. Toàn bộ số quân lương nguyên vẹn được đưa vào các kho tư nhân của phe cánh Tể tướng tại Thông Châu và Phụng Đài, sau đó được thay thế bằng cát sỏi và gạo mục trước khi bốc lên thuyền xuôi dòng sông Hoài ra biên quan. Bọn chúng dùng số gạo ngon này để thao túng thị trường lương thực trong tình cảnh Kinh thành đang hứng chịu bão tuyết, ép giá gạo lên gấp mười lần để thu lợi bất chính sung vào quỹ riêng.
Chứng cứ mà Tô Mạt thu thập được ghi rõ số lượng thuyền và tải trọng thực tế của Tiêu cục dưới quyền phe cánh Tể tướng đã lén lút đổi hướng vào kho trong đêm muộn. Ngoài ra còn tìm được sổ sách lưu chuyển tiền tệ ghi nhận dòng ngân lượng khổng lồ chảy từ các tiệm gạo lớn ở Kinh kỳ về thẳng thôn trang ngoại ô của Tể tướng.
Đây không phải là một vụ án thông thường. Rõ ràng là tham ô quân lương gây thiệt hại cho quân đội và triều đình. Mặt khác còn gắp lửa bỏ tay người, giả bằng chứng vu oan người vô tội, thao túng dân sinh, mưu đồ binh biến ngầm. Đối với Hoàng đế, có những tội có thể được dung thứ, nhưng một kẻ lộng hành đến mức nắm giữ huyết mạch lương thực của Kinh kỳ và có khả năng nuôi quân riêng thì đó chính là thách thức giới hạn của Hoàng quyền.
Ngày đó Bùi Việt lẩn trốn rất lâu mới tìm được cơ hội xuất hiện trước mặt Tả Đô Ngự sử. Người này nổi tiếng thanh liêm nhưng cũng là kẻ thức thời trong chính trị. Bùi Việt không cầu xin lòng thương hại, hắn chỉ đặt ba quyển sổ lên bàn và nói:
“Lần này nếu Ngự sử đài không lên tiếng, đợi đến khi Tể tướng mua chuộc đủ người cần thiết, ngòi bút của các ngài sẽ không còn giá trị trước lưỡi đao của Kinh Vệ quân nữa.”
Vào triều sớm, khi Tể tướng vừa bước lên dâng sớ về việc bình ổn giá gạo sau thiên tai, Tả Đô Ngự sử cùng mười hai vị Ngự sử của sáu bộ đồng loạt bước ra khỏi hàng, quỳ rạp xuống nền điện lạnh ngắt.
Ba quyển sổ được nội thị dâng lên trước long án. Hoàng đế lật xem từng trang, sắc mặt từ bình thản chuyển sang trầm mặc đến mức đáng sợ, khiến Tể tướng đứng ở đầu hàng quan viên bắt đầu cảm thấy lạnh buốt thấu xương.
Hoàng đế không lập tức hạ lệnh xử lý Tể tướng, bởi vì phe cánh của lão cáo già còn quá rộng. Mà Hoàng quyền lại cần sự ổn định. Hoàng đế trao toàn quyền điều tra cho Đại lý tự và Hình bộ, tước quyền điều động binh mã của Kinh Vệ phủ ngay tại chỗ, giao cho Thống lĩnh Ngự lâm quân tiếp quản. Tể tướng buộc phải “cáo bệnh trong phủ” để phối hợp tra án. Bề ngoài là như vậy nhưng thực chất là một hình thức giam lỏng.
Ngoại thích lộng quyền, Hoàng đế vốn muốn trừ khử thế lực của Tể tướng từ lâu, lúc này có được xấp sổ sách vận tải đường thủy hiển hiện con dấu đỏ chói do Tô Mạt thu thập thì thuận thế nhổ tận gốc phe cánh này. Đúng là chẳng khác nào buồn ngủ vớ được chiếu manh.
Bùi Việt đứng ở cửa phòng, nhìn chằm chằm Tô Mạt. Hắn gầy đi trông thấy, đôi mắt hốc hác đong đầy mệt mỏi:
“Mạt Mạt, án oan rồi sẽ được rửa sạch. Hầu phủ đã an toàn.”
Tô Mạt nhìn hắn, ánh mắt bình thản đến tàn nhẫn. Không có nước mắt, cũng không có màn trùng phùng cảm động. Nàng rút ra tờ thư hòa ly từ dưới gối, đặt lên trên bàn trà nhỏ cạnh giường.
“Chúc mừng Hầu gia. Vật này, ngài giữ lấy đi. Từ nay, nhà họ Bùi vinh hiển hay lụi bại, không liên quan đến Tô Mạt ta.”
Bùi Việt khựng lại, bước chân dừng giữa khoảng không: “Mạt Mạt, ba năm qua ta không gần gũi với nàng, ký giấy hòa ly là vì nghĩ nàng muốn được tự do, không muốn bị giam cầm ở Hầu phủ trong cảnh cô độc. Ta…”
“Bùi Việt.” Tô Mạt ngắt lời hắn, giọng nói nhàn nhạt.
“Ngài tự phụ quá rồi. Ngài dựa vào đâu mà quyết định cuộc đời thay ta? Ta từng nghĩ dẫu ta và ngài chưa từng có tình cảm, nhưng tiến tới hôn nhân rồi sẽ khác. Ta bằng lòng chờ đợi, dù lâu một chút cũng không sao. Ta chỉ sợ rằng riêng bản thân ta là người cố gắng, còn ngài luôn dừng bước ở ngày thành hôn. Và cũng chỉ dừng lại ở sự bằng lòng ấy.”
“Ta chưa từng nghĩ tới, ngài lại bàn tính đến chuyện hoà ly ngay ngày đầu tiên ta bước chân về Bùi phủ làm dâu.”
“Chỉ là ta luôn nghĩ, hai người đã thành thân, nếu không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, cớ sao phải nhắc đến chuyện hoà ly?”
“Ta mang theo tâm thế dè dặt bước chân vào cửa Hầu phủ. Nhưng trong lòng luôn nhen nhóm hy vọng. Bởi vì ta cũng muốn có một gia đình nhỏ cho riêng mình. Trượng phu bận rộn việc công, không thể sớm tối kề cận cũng không sao. Vì một ngày ta cũng có nhiều việc phải làm. Phụng dưỡng, bầu bạn cùng mẹ chồng, quản lý mọi việc trong phủ… Chúng ta đều bận rộn mà.”
“Nhưng chẳng lẽ cả đời đều bận rộn sao…”
“Bận đến mức chỉ có thể coi thê tử như quản gia trong nhà, đến một lời hỏi han săn sóc cũng không bằng lòng trao đi.”
“Ta từng nghĩ bản thân làm tròn bổn phận thì khoảng cách giữa ta Hầu gia sẽ có thể rút ngắn. Nhưng là do ta nghĩ nhiều. Bởi ngài chưa từng có ý định để ta bước vào của sống của mình.”
Nàng đặt tay lên bụng dưới, giọng bình thản:
“Đứa trẻ này mang họ Tô. Ta dùng ba cuốn sổ của Tiêu cục để đổi lấy mạng của ngài, ơn nghĩa giữa chúng ta đã thanh toán sòng phẳng. Đến đây thôi.”
Bùi Việt nhìn tờ thư hòa ly trên bàn. Hắn thắng được Tể tướng, rửa sạch oan khuất cho bản thân, nhưng trước mặt người nữ tử này, hắn hiểu mình đã thua triệt để. Sự kiêu ngạo tự cho là đúng của hắn đã chặt đứt sợi dây liên kết duy nhất giữa hai người.
Bùi Việt ngẫm nghĩ đến chuyện hoà ly hắn từng nói vào đêm tân hôn. Lời tuyên bố ấy là sự tôn trọng lớn nhất, là tấm lòng bao dung nhất mà một nam nhi như hắn có thể dành cho một cô nương khuê các như nàng. Hắn biết mình không thể cho nàng một mái ấm bình yên, hắn biết thanh danh “Chiến thần” của mình được đổi bằng mạng sống của hàng vạn người và đầy rẫy hiểm nguy. Vì vậy, hắn cho nàng một đường lui, một quyền lựa chọn tự do sau ba năm thử thách. Hắn không muốn dùng danh phận Bùi phu nhân để giam cầm cuộc đời của một cô nương vô tội.
Bùi Việt viết thư gửi về nhà với tâm thế của một người lính báo cáo bình an, hắn không biết cách viết những lời đường mật của bậc văn nhân mặc khách, càng sợ bản thân viết quá nhiều sẽ khiến nàng thêm vướng bận nếu sau này hai người ly hôn. Hắn muốn giữ cho mọi thứ không vượt quá tầm kiểm soát.
Nhưng mà hắn chưa từng đứng ở vị trí của nàng mà suy nghĩ. Nàng là một cô nương, chân ướt chân ráo bước chân về nhà người, lại bị trượng phu lạnh nhạt đề ra thời gian ba năm để nàng có thể tự do rời đi. Tự do rời đi ư? Đúng là nực cười.
Hắn chậm rãi cầm lấy tờ giấy, khẽ ngước mắt nhìn nàng, khàn giọng nói một câu “Nàng hãy bảo trọng” rồi lầm lũi quay người bước đi vào màn sương sớm.
Ván cờ chính trị hạ màn. Họ không còn là phu thê, chỉ còn là hai kẻ xa lạ từng cứu mạng nhau một lần trong đời.
Chương 5:
Sau vụ án quân lương, phủ Tể tướng hoàn toàn sụp đổ. Triều đình Đại Khải bước vào giai đoạn cải cách kinh tế sâu rộng dưới sự giám sát trực tiếp của Hoàng quyền.
Công việc kinh doanh gấm vóc của Tô Mạt ngày càng khấm khá, mở rộng thành năm cửa tiệm lớn có mặt trên khắp Đại Khải. Và dự tính chưa dừng lại ở đó.
Phủ Định Viễn Hầu cách ngõ Thanh Thủy ba con phố. Hai năm qua, cửa chính Hầu phủ luôn đóng chặt, Bùi Việt không nạp thiếp thất, không cưới thê tử, hắn dành phần lớn thời gian ở trong đại doanh quân đội ở phía Bắc.
Hắn giữ đúng lời hứa không làm phiền đến cuộc sống của mẹ con nàng. Nhưng sống giữa nơi bùn lầy đầy rẫy mưu toan tàn nhẫn của Kinh kỳ, một người phụ nữ nắm giữ khối tài sản khổng lồ như Tô Mạt nếu không có chỗ dựa thì sớm muộn cũng bị các thế lực quyền quý khác xâu xé. Nhiều vị vương tôn công tử từng cố ý dùng quyền lực để chèn ép công việc làm ăn kinh doanh của nàng.
Kinh thành đa phần cho rằng tiệm lụa Tô thị gầy dựng lại được sau đại nạn là nhờ cái bóng của phủ Định Viễn Hầu. Nhưng chỉ có người trong cuộc mới hiểu, binh quyền của Bùi Việt đối với việc kinh doanh gấm vóc của Tô Mạt chỉ là một lá bùa hộ mệnh nửa vời, thậm chí là một con dao hai lưỡi. Binh quyền kết hợp với Thương quyền có thể khiến Hoàng đế nghi kỵ. Không biết khi nào, một vị tướng nắm giữ mười vạn đại quân ở biên thùy một mực che chắn cho việc làm ăn của nữ thương nhân sẽ biến thành gom tiền nuôi tư binh. Cho nên Bùi Việt không dám đánh cược, cũng không dám làm điều gì lộ liễu gây liên lụy đến nàng. Mà Tô Mạt cũng hiểu rõ hơn ai hết.
Bùi Việt chỉ có thể lén cử người dẹp sạch lũ giặc cỏ và đám quan lại hám tiền dọc tuyến đường vận chuyển, bảo toàn cho những chuyến thuyền chở gấm vóc của nàng luôn thông suốt.
……….
Tô Mạt và cửa tiệm tạo ra loại vải mỏng nhẹ, mùa hè mặc trên người khiến người ta thoải mái, được rất nhiều tiểu thư và quý phụ nhân trong Kinh thành ưa thích. Tiếng lành đồn xa, sau này còn thu hút được rất nhiều lượt khách từ khắp mọi nơi trên đất Đại Khải.
Vào một ngày nọ, Tô Mạt tiếp đón một người phụ nữ quý phái, ăn vận xa hoa. Hỏi ra mới bước nàng là muội muội của vị Hoàng hậu. Nàng nghe danh cửa tiệm Tô thị đã lâu, sắp tới lại là dịp sinh thần của tỷ tỷ, nàng muốn Tô Mạt tạo ra một món quà đặc biệt để tặng cho vị Hoàng hậu ấy.
Tô Mạt ngẫm nghĩ một hồi, cuối cùng cũng nhận lời. Nàng cho người tước lấy những sợi lông mịn nhất trên phần “mắt” của lông đuôi khổng tước, tỉ mỉ dùng tay vuốt thẳng rồi quấn xoắn ốc bọc kín xung quanh một sợi tơ tằm làm lõi để se thành một loại chỉ đặc biệt. Khi thêu lên nền lụa sa mỏng nhẹ, những nghệ nhân giỏi nhất của Tô thị dùng kỹ thuật thêu truyền thống đi các mũi kim song song và sát khít tuyệt đối. Cấu trúc của lông khổng tước khiến họa tiết trên mặt vải có khả năng tự đổi màu xanh tùy theo góc ánh sáng chiếu vào. Cuối cùng, nàng cho viền sát theo mép đường thêu bằng loại chỉ làm từ vàng ròng dát mỏng quấn quanh tơ, vừa để khóa chặt chân chỉ lông khổng tước không bị bung xù, lại vừa tạo thành những đường ranh giới rực sáng sắc nét.
Tác phẩm hoàn thiện là chiếc áo choàng mang tên “Bách Điểu Triều Phượng”, được Tô Mạt khéo léo dâng lên vị Mẫu nghi thiên hạ.
Đêm đó, giữa một hậu cung đầy rẫy những bộ gấm Thục dệt chỉ vàng sặc sỡ, vị Hoàng hậu ấy bước vào đại điện. Ban đầu, sắc xanh lục trầm mặc của chiếc áo không có gì nổi bật. Nhưng khi nàng bước lên các bậc thềm, đi qua hàng ngàn ánh đèn cung đình, lúc ấy thị giác mới thực sự bùng nổ. Ánh đèn hắt lên thớ vải, lớp lông khổng tước sáng rực lên, đàn chim phượng hoàng ẩn trong tà áo như đang chuyển động, vỗ cánh bay múa theo từng nhịp bước chân. Viền vàng ròng phản chiếu ánh lửa, tỏa ra thứ hào quang quyền uy tột bậc mà không loại tơ lụa nào trên đời có thể sánh bằng.
Cú nổ ấy làm chấn động cả thâm cung. Đám thương nhân đối thủ lồng lộn tìm cách bắt chước, nhưng cuối cùng cũng chìm trong vô vọng. Dù bọn họ nhuộm màu gì cũng không ra được sắc xanh tự nhiên của lông chim khổng tước, càng không biết cách se chỉ bọc viền vàng để giữ phom dáng mỏng nhẹ như cánh ve ấy.
Nàng biến tơ lụa thành thứ vũ khí ngoại giao bén nhọn nhất. Khi đám thương nhân ngoài kia còn đang bàn mưu tính kế xâu xé cửa tiệm của nàng, thì ý chỉ khen ngợi của Hoàng hậu đã ban xuống, phong Tô thị thành Hoàng thương cung ứng độc quyền cho nội đình. Một bộ giáp bảo vệ kết bằng sự khôn ngoan và quyền lực hậu cung còn kiên cố hơn bất kỳ thiên quân vạn mã nào.
Vào đêm yến tiệc mừng chiến thắng biên thùy, Bùi Việt ngồi ở hàng ghế đại thần, toàn thân khoác giáp trụ uy nghiêm nhưng ánh mắt lại đăm chiêu nhìn về chủ vị trên cao. Ở đó, Hoàng đế và Hoàng hậu đang không tiếc lời ca ngợi sắc gấm rực rỡ trên long bào năm nay, gọi tên Tô chưởng quỹ với tất cả sự tán thưởng.
Bùi Việt nâng chén rượu nhạt, cảm giác chua chát và bất lực thấm vào tận tâm can. Hắn từng nghĩ thương trường là vực thẳm, luôn canh cánh muốn dùng đôi vai của một vị tướng để che mưa chắn gió cho nàng. Nhưng giờ đây nhìn tà áo kiêu hãnh của nàng ẩn hiện giữa tầng tầng lớp lớp quyền quý, hắn mới cay đắng nhận ra, nàng đã tự dệt nên giang sơn của riêng mình.
Bùi Việt hắn vĩnh viễn không có tư cách bước vào thế giới rực rỡ, tự do và đầy kiêu ngạo mà nàng tự tay gây dựng. Rốt cuộc hắn chỉ có thể đứng từ xa, ngước nhìn người thê tử năm nào nay đã hóa thành phượng hoàng tung cánh giữa trời cao.
Mùa thu năm thứ tư.
Bến sông Hoài ngoại ô kinh thành lộng gió, lá cây phong đỏ rụng đầy trên mặt nước quan lộ. Ba mươi chiếc thuyền lớn của Tô thị đang rầm rộ bốc dỡ hàng hóa chuẩn bị cho đợt tuyết đầu mùa.
Tô Mạt khoác chiếc áo lông cáo màu trắng như tuyết, đứng trên đài quan sát bằng gỗ cao. Trận động thai năm xưa để lại chứng bệnh hàn kinh niên khiến nàng không thể chịu được gió lạnh. Gương mặt vẫn gầy gò nhưng thần thái đã khác xưa, trầm mặc mà quyết đoán. Bên cạnh nàng là một đứa bé bốn tuổi đang chạy nhảy.
Tiếng vó ngựa dồn dập từ phía xa vọng lại. Bùi Việt dẫn theo một đội kỵ binh thị sát đê điều đi ngang qua bến cảng. Hắn mặc một bộ chiến bào màu xanh thẫm, vạt áo bám đầy bụi đường phong trần, khí chất ngày càng trầm ổn và tàn nhẫn của một vị đại tướng nắm giữ sinh sát biên thùy.
Hắn ghìm cương ngựa bên bờ, ngước mắt nhìn lên đài quan sát. Hai người nhìn nhau qua khoảng cách trăm thước, giữa tiếng reo hò của phu khuân vác, tiếng sóng đập vào mạn thuyền và tiếng gió thổi phần phật vào lá cờ thêu chữ “Tô”.
Sắc mặt Tô Mạt bình thản, khẽ cúi người hành lễ theo đúng quy củ với người đối diện.
Bùi Việt ngồi trên lưng ngựa khẽ ôm quyền đáp lễ. Ánh mắt hắn dừng lại trên người đứa trẻ kia một lát. Đứa nhỏ ngẩng đầu lên, nhìn vị tướng quân cưỡi ngựa lớn phía dưới bằng ánh mắt tò mò, hoàn toàn không có sự sợ hãi nào.
Bùi Việt ngẩn người đứng nhìn một lúc lâu rồi mới thu hồi ánh mắt, thúc ngựa rời đi. Tiếng vó ngựa nhỏ dần rồi mất hút nơi cuối con đường quan lộ đầy lá rơi rụng.
……..
Buổi tối hôm đó, khi đoàn thuyền đã rời bến, Nguyệt Nhi vừa thêm than vào lò sưởi trong xe ngựa vừa khẽ hỏi:
“Tiểu thư, suốt những năm qua Hầu gia vẫn độc thân, ngài ấy còn lén dẹp đường để chúng ta vận chuyển được thông suốt. Người thực sự… không cho ngài ấy một cơ hội sao?”
Tô Mạt nhìn qua cửa sổ xe ngựa, nhìn ánh đèn lồng của Kinh thành xa hoa dần hiện ra trong đêm tối, khẽ vuốt tóc con trai đang ngủ say trong lòng:
“Nguyệt Nhi, thực ra ta là một người hèn nhát. Từng mong ước có được tình yêu của trượng phu nhưng vì không có được mà ngậm ngùi chia cắt. Ta không có nhiều dũng khí đến thế.”
Nàng nhắm mắt lại, xe ngựa chậm rãi lăn bánh vào nội thành.
Ngày hôm sau, trong gian tiệm vắng khách lúc chiều tà, Tô Mạt ngồi bên bàn thêu, ngón tay chậm rãi vuốt qua một dải lụa sa thêu lông khổng tước còn dang dở. Sợi chỉ lông khổng tước khẽ gợn lên dưới lòng bàn tay nàng. Đôi bàn tay này năm xưa chỉ đọc sách viết chữ, gõ bàn tính tính toán, giờ đây đã hằn lên những vết chai mỏng ở đầu ngón tay vì kéo sợi.
“Chưởng quỹ.” Gã sai vặt bước vào, mang theo luồng khí ẩm ướt.
“Có thân tín của phủ Định Viễn Hầu đến, gửi lại cái này.”
Trên khay gỗ là một chiếc hộp nhỏ. Tô Mạt mở ra, bên trong chỉ có một nhánh hoa mộc lan bằng ngọc bích đã cũ cùng một bức thư tay.
Nàng nhìn nhành hoa mộc lan lạnh ngắt rồi ngước mắt nhìn ra ngoài phố. Qua màn mưa phùn nhạt nhòa, chiếc xe ngựa của Hầu phủ đỗ im lìm dưới rặng liễu rủ bên kia đường. Rèm xe không vén, người bên trong không bước xuống. Hắn biết, khoảng cách từ cỗ xe ấy đến ngưỡng cửa tiệm lụa này tuy chỉ vài bước chân, nhưng đã bị năm tháng và những tổn thương chồng chất kéo dài thành một ranh giới. Lần này bản thân hắn lại ích kỷ, gói ghém chút tâm tư gửi đến nàng trước khi lên đường viễn chinh vào ngày mai.
Bên trong bức thư chỉ có một dòng chữ: “Vốn là mua tặng nàng sau ngày thành thân. Lại không nghĩ nó đến được tay nàng khi chúng ta đã không còn là phu thê.”
Tô Mạt thoáng khựng lại, sau đó lặng lẽ khép nắp hộp gỗ, đặt nó vào một góc trên kệ. Nàng quay lại bên khung dệt, tiếp tục đường kim còn dang dở.
Tiếng xe ngựa ngoài phố bắt đầu lăn bánh, lọc cọc nghiền lên những viên đá ướt đẫm nước mưa, âm thanh nhỏ dần rồi tan biến hẳn trong làn mưa bụi.
(Hết)