Ico, Lâu đài trong Màn sương

Chương 2-1: Lâu đài trong Màn sương




Họ đã tới bìa rừng.

Chim chóc ríu rít trong ánh nắng mặt trời, và từ đâu đó phía trên cao xuất hiện tiếng kêu sắc bén của một con chim ưng đang đuổi theo con mồi của nó.

Hai cột đá bị phong hóa sừng sững dưới ánh sáng lốm đốm xuyên qua đám lá ở bìa rừng. Dấu vết mặt đất bị giẫm nhẹ mà họ đang theo kết thúc ở đây tại một cầu thang đá dẫn vào một khu rừng thưa.

Người lính gác đi trước thúc con ngựa của ông tiến lên, và đôi móng guốc leo núi của nó tạo một tiếng lách cách lớn trên đá. Những bậc thang bị phong hóa ở các mép. Một vài tảng đá phủ rêu, và số khác đã hoàn toàn biến mất, nhưng không nghi ngờ chúng đã được đặt ở đó bởi những bàn tay con người.

Con ngựa chở Ico và thầy tu đi theo, dây cương của nó kêu lách cách, một giọt mồ hôi lấp lánh trên cổ nó. Ba con ngựa đứng cạnh nhau trên bậc thang đá vỡ họ tìm thấy trên đỉnh cầu thang. Ico nheo mắt dưới ánh nắng chói chang, cảm thấy một cơn gió nhẹ lướt qua mặt cậu. Một cơn chóng mặt đột ngột đến với Ico khi cậu nhận ra họ thực sự đứng trên đỉnh của một vách đá cao chót vót nhìn ra biển.

Xa xa phía dưới, mặt nước lấp lánh trong ánh mặt trời. Đó là lần đầu tiên Ico ở biển – nhưng cậu không dành chú ý đến sự hiền hòa của dòng chảy hay sự lấp lánh của những con sóng trắng đổ vào chân vách đá. Vùng nước chỉ là một vịnh nhỏ, và tất cả sự chú ý của Ico được tập trung vài thứ nằm trên đỉnh bên kia của một vách đá khác giống như vách đá chỗ họ đứng.

Một lâu đài đồ sộ bằng những tảng đá to lớn thô kệch, một hình bóng đen thẫm dựa vào bầu trời pha lê xanh, chiếm lĩnh lấy khung cảnh. Lâu đài không mọc lên như phát triển từ bề mặt vách đá mặc dù bản thân nó được tạc từ đá. Nó gần như là kiểu sai lầm nào đó của tự nhiên đã tạo nên khối đá bị xói mòn thành hình dáng của một lâu đài mà con người có thể xây dựng nên. Nó trông vững chắc. Những đường cong duy nhất trong cấu trúc của nó là những cột nghiêng tao nhã chống đỡ bức tường bên ngoài, chân của chúng được cắm chắc chắn dưới những con sóng.

Ico không thể tưởng tượng thứ gì đó trông khác lạ hơn Lâu đài trong Màn sương mà cậu đã thấy trong những giấc mơ và cơn ác mộng của mình. Có lẽ đó là bầu trời xanh trong trên đầu hay âm thanh vui vẻ của chim chóc trên cây. Tuy nhiên, không có gì u ám, khiếp sợ, hay thậm chí hơi giống điềm xấu về lâu đài trên đỉnh vách đá. Nó đẹp đẽ, thậm chí tao nhã – một dinh thự nguy nga, cổ xưa.

“Vậy đây là nó…” người lính gác với đôi sừng chĩa lên trên chiếc mũ sắt của mình thốt ra.

Con ngựa chở thầy tu và Ico hý vang và giơ hai chân trước của nó lên, mang sự chú ý của Ico trở lại với mặt nước. Một cơn gió biển mạnh thổi, làm gợn sóng mép của tấm Phù hiệu nơi nó rũ xuống qua ngực và lưng cậu. Bên kia của lâu đài đối mặt với họ sừng sững một cổng đá lớn, những cánh cửa của nó mở rộng. Nhưng không có cách nào để tới chỗ nó.

Ico nhận ra rằng bậc đá mà giờ họ đứng trên đó đã từng là một phần của một cây cầu dẫn đến lâu đài. Cây cầu đã từng đủ rộng lớn cho ba con ngựa đi qua theo hàng ngang. Nhưng giờ đây, chỉ vài bước phía trước, tảng đá kết thúc. Cậu giữ một tay qua đôi mắt mình để che chúng khỏi mặt trời và nhìn thấy phần kết thúc bên kia của cây cầu ở chân cổng lâu đài. Nó cũng kết thúc bất ngờ nơi những vách đá bắt đầu. Giữa họ, chỉ có bầu trời.

Ngươi không được vào.

Ngươi không được rời đi.

Vịnh nhỏ giữa hai vách đá tạo thành một hào nước ấn tượng hơn bất cứ hào nước nào được tạo bởi con người.

Lần đầu tiên từ lúc đến, Ico nhận thấy một vẻ kỳ quái không thể phủ nhận được với khung cảnh xinh đẹp. Khi đôi mắt cậu thích nghi với ánh sáng, cậu chú ý rằng mặc dù bầu trời xanh ở trên đầu, một đám mây trắng mỏng treo trên mỗi phần của lâu đài. Sao mình không phát hiện điều đó từ trước nhỉ?

“Xuống vách đá,” thầy tu nói từ sâu thẳm cái mũ trùm đầu của mình. Ông kéo dây cương, dẫn con ngựa của họ sang bên trái của bậc thang, nơi Ico phát hiện ra một đỉnh đèo dốc quanh co thẳng xuống vách đá. Ba con ngựa đi theo hàng một xuống con đường đất bị giẫm đạp không đáng kể. Không rào chắn, hay bất cứ thứ gì khác để ngăn cản họ khỏi sẩy chân một cái là bay vèo xuống mép, thế nhưng thầy tu vẫn nắm cương nhẹ nhàng.

Toàn bộ đường đi xuống, Ico nghển cổ để nhìn lên lâu đài. Cậu không thể rời mắt khỏi nó. Một tia sáng thu hút mắt cậu – ánh nắng mặt trời phản chiếu từ hai khối cầu lớn ở trên đỉnh cột mỗi bên của cổng chính.

Ico cảm thấy một sự xôn xao trong ngực mình.

Ngươi đã đến với ta.

Cuối cùng.

Chẳng mấy chốc cánh cổng ở cao phía trên họ và mặt biển gần bên dưới. Những con chim biển trắng nhảy lò cò từ tảng đá này sang tảng đá khác, và những xoáy nước cuộn xoáy trong vịnh. Một kết cấu đá nhỏ đứng ở chân vách đá, mái của nó được chống đỡ bởi những cây cột mảnh khảnh. Không khí mát mẻ dưới bóng của vách đá, và bụi nước từ những tảng đá để lại một sự ớn lạnh mỏng manh trên hai cánh tay trần của Ico.

Những người cùng đi xuống ngựa. Một cầu tàu bằng gỗ ngắn với những cây cọc mục nát kéo dài vào mặt nước phía trước kết cấu đá. Bên cạnh nó, một chiếc thuyền có mái chèo nhỏ đã được kéo lên bờ. Trong khi hai người lính gác di chuyển chiếc thuyền đến một cái kênh nước nhỏ dẫn vào vịnh, thầy tu đứng trên một mô đất trồi lên, nhìn ra biển.

Ico căng đôi tai lên, nghĩ rằng cậu có thể nghe thấy những từ của lời cầu nguyện của thầy tu, nhưng nếu ông ấy nói bất cứ điều gì, nó lại bị mất đi trong tiếng gầm của sóng.

Khi chiếc thuyền sẵn sàng, hai người lính gác vẫy họ lên thuyền. Khi Ico tiến đến đuôi thuyền, một trong hai người giơ tay ra để giúp cậu lên, nhưng thay vì thế Ico nhảy, hạ cánh trực tiếp ở giữa thuyền nhẹ nhàng đến nỗi chiếc thuyền không hề rung lắc trong nước.

Ico cho rằng người lính gác đang cười bên trong chiếc mũ sắt của mình – cùng cách mà Oneh sẽ cười bất cứ khi nào bà thấy Ico nhảy hay leo trèo.

“Nhẹ nhàng như vậy hẳn là rất tuyệt,” bà sẽ nói.

Nhưng dù cho người lính gác mang biểu hiện gì, nó không thể kéo dài lâu. Ông xoay lưng lại với Ico, một linh cảm hối tiếc rõ ràng sau lưng ông.

Chèo thuyền là nhiệm vụ của người lính gác kia. Thầy tu ngồi ở mũi thuyền, vẫn hoàn toàn bất động, ngoại trừ chuyển động truyền đi do nước phía dưới họ. Một con chim biển với nhúm lông trắng tinh phía trước ngực nó và một cái mỏ đỏ lướt qua những con sóng về phía chiếc thuyền nhỏ của họ, chỉ vừa bay là là trên đầu thầy tu. Dù vậy, ông vẫn không rùng mình. Ico quét hai cánh tay mình bên mạn thuyền, chạm vào dòng nước chảy qua. Qua những con sóng trong suốt cậu thấy những hình dáng của cá bơi phía dưới.

Họ cắt qua dòng chảy của thủy triều, từ từ tiến về phía bờ đối diện. Ico nhìn lên lại về phía lâu đài. Bầy trời được tách ra thành những đường cong mềm mại bởi những khung cửa tò vò cao mọc lên giữa những cột đá của bức tường bên ngoài. Người lính gác chèo thuyền về phía bên trái của lâu đài, và chẳng mấy chốc bức tường bên bắt đầu xuất hiện trong tầm mắt. Ico nhận ra rằng lâu đài không phải là một cấu trúc đơn lẻ mà đúng hơn là một bộ sưu tập của vài ngọn tháp. Những đường ống màu đồng và những đường đắp cao bằng đá hẹp kéo dài từ những bức tường tháp, trải dài qua những khe hổng để nối các ngọn tháp lại với nhau. Lâu đài rộng lớn đến nỗi Ico nhận thấy thật khó để nhìn hết nó một lần.

Lúc trước khi chiếc thuyền trượt vào dưới bóng của lâu đài, Ico thấy những quả cầu trước cổng chập chờn một lần cuối cùng.

Khi họ đến gần bờ, chiếc thuyền đổi hướng xa hơn về bên trái, tiến đến bên kia của lâu đài. Từ đây, không thể nào nói được đâu là nơi những vách đá dốc đứng phía trên họ kết thúc và Lâu đài trong Màn sương bắt đầu. Lâu đài này đang trở thành một phần của mặt đất phía dưới nó ư, Ico mơ màng tự hỏi, hay những vách đá đang từ từ nuốt toàn bộ lâu đài?

“Tiến vào hang động,” thầy tu gọi từ mũi thuyền, giơ tay lên và chỉ. Phía trước, một cái hang mở ra trên mặt đá. Cái hang trông giống như có được tạo nên tự nhiên, nhưng nó được gia cố thêm ở bên kia với bằng những cột đá. Người lính gác xoay thuyền về phía lối vào.

Khi họ chèo vào trong, bóng tối buông quanh họ. Con thuyền thận trọng tiến tới, một đứa trẻ sợ bị khiển trách, và âm thanh của sóng biển biến mất.

Phía trước họ, một khung lưới sắt được làm từ những khúc gỗ to buộc vào nhau chắn đường của họ. Thầy tu nhìn lên những tảng đá bên phải và gọi người lính gác với đôi sừng chĩa xuống. “Bây giờ.”

Người lính gác nhẹ nhàng nhảy từ thuyền lên rìa đá của hang động và biến mất vào bóng tối. Con thuyền tiếp tục trôi về phía trước, và chỉ khi mũi thuyền sắp sửa chạm phải những khúc gỗ, toàn bộ khung lưới sắt được nâng lên khỏi những con sóng với một tiếng ồn cọt kẹt lớn, cho phép họ đi qua.

Người lính gác xuất hiện lại ở đầu bên kia hang và nhảy trở lại trên thuyền với một tiếng thịch lớn.

Không lâu sau đó, một cầu tàu gỗ nho nhỏ trông rất giống như cầu tàu nơi họ vừa rời khỏi dần dần xuất hiện trước mắt họ. Nó thậm chí còn giống với cái cầu tàu khác trên đường đi mà những cọc gỗ của nó đã mục rữa, để lại những tấm ván phía trên nghiêng bề phía mặt nước.

Thầy tu là người đầu tiên lên bờ khi họ tới được cầu tàu. Người lính gác phía sau Ico đẩy nhẹ vào lưng cậu. Mặc dù họ vẫn ở bên trong hang động, trần ở đây cao hơn nhiều, và cái hang dường như mở rộng xa hơn về phía trước. Một con đường cát dẫn đi từ cầu tàu, tách ra thành bên phải và bên trái.

“Lấy thanh kiếm,” thầy tu nói.

Người lính gác với đôi sừng chĩa xuống gật đầu và đi xuống lối đi bên phải, biến mất dưới một hành lang bằng đá.

Ico đứng kiểm tra chỗ xung quanh cậu đến khi thần tu gõ lên vai cậu, ra dấu rằng cậu nên đi xuống lối đi bên tay trái. Họ bắt đầu đi, cát ẩm tạo nên một âm thanh khôi hài không thích hợp xì xụp dưới đôi giày da của Ico.

Một cái lỗ trống tròn mở ra trong bức tường hang. Họ đi qua, và mặt sàn dưới chân họ giờ trơn nhẵn. Họ không còn đi trên đá và đá cuội nữa; hành lang ở đây được tạc từ đá.

Ico nhìn xung quanh, đôi mắt cậu mở to.

Cậu chưa bao giờ ở trong một nơi như này trước kia. Nó tương tự như một đại sảnh, với những mặt bên dựng thẳng đứng lên như một ống khói. Bản thân căn phòng là một hình tròn hoàn hảo, và nó làm cậu đau cổ để nhìn lên trần nhà ở xa phía trên.

Một cầu thang xoắn ốc, và vài chỗ có những chiếc thang, xếp thành hàng ở bức tường ngoài căn phòng và đã từng để cho ai đó leo thẳng lên phía trên. Nhưng khi Ico nhìn gần hơn, cậu thấy rằng những bậc thang đã rời khỏi vị trí.

Một cột hình trụ to dựng lên từ trung tâm căn phòng, tiến thẳng lên trên đỉnh – mặc dù, khi Ico xem xét nó, phần cấu trúc quá rộng lớn đối với một cây cột. Nó hẳn là được đặt ở đây vì mục đích nào đó khác hơn là chống đỡ phần mái.

Lối đi bằng phẳng trải dài đến giữa căn phòng và kết thúc tại cây cột trung tâm đó, nơi Ico nhận ra hai tượng đá, đại khái có chiều cao của con người. Hai bức tượng vuông vức, các mặt của nó chạm nhau ở những góc cạnh sắc nét, tuy nhiên chúng có những thứ trông giống như cơ thể, chân và thậm chí đầu, hoàn toàn với đôi mắt được tạc.

Ico chưa bao giờ thấy những bức tượng như này ở bất cứ đâu quanh Toksa. Hình dáng của chúng tương tự như những bức tượng nhỏ mà những người đi xa cầu nguyện sự bảo trợ trên đường đi.

Thầy tu từ từ tiến đến hai bức tượng. Người lính với đôi sừng chĩa lên trên đứng lại với Ico.

“Cậu có lạnh không?” ông ấy hỏi bằng một giọng yếu ớt đến nỗi Ico có thể nói nó đến từ một hơi thở.

Ico lắc đầu. Người lính gác không nói gì thêm, nhưng ông ấy chà xát hai cánh tay mình như thể để nó Ừm, tôi cũng vậy. Hoặc có lẽ cử chỉ của ông ấy có nghĩa là Tôi sợ.

Những bước chân nặng nề tiến tới. Người lính gác kia đã trở lại. Ico giật mình khi thấy ông ấy cầm một thanh kiếm khổng lồ. Không nghi ngờ những bước chân của ông ấy đang được kéo lê. Thanh kiếm dài đến nỗi nếu người lính gác đặt mũi kiếm của nó lên mặt đất, cán của nó có thể cao tới vai ông ấy. Nó được bọc lại, mặc dù nó trông như hai lưỡi bởi hình dáng của nó, với một sợi xích gắn nơi chuôi kiếm. Cán kiến to như cổ tay của Ico, nó có màu bạc mờ của kim loại cũ.

Người lính gác chần chừ, nhìn về phía thầy tu. Thầy tu gật đầu và biểu thị với hai tay rằng người lính gác nên đứng trước hai bức tượng. Người lính gác bước vài bước tới trước. Ông ấy liếc nhìn người lính gác kia, người đang đứng cạnh Ico. Gương mặt của cả hai người đàn ông đều được giấu kỹ dưới chiếc mũ sắt của họ, nhưng Ico nghĩ cậu có thể tưởng tượng biểu hiện của họ: họ đang kinh hãi.

“Rút kiếm ra,” thầy tu yêu cầu. “Không có gì phải khiếp đảm.”

Giữ lưỡi kiếm ngang với sàn, người lính gác nắm chặt cán kiếm bằng tay phải. Hai cánh tay của ông run run với sức nặng của lưỡi kiếm. Mặc dù lưỡi kiếm trông cổ, nó trượt khỏi bao kiếm mà không gây một tiếng động, giống như một lưỡi kiếm của một người lính được bôi trơn tốt.

Một ánh sáng lóe lên trong ánh sáng mờ mờ của căn phòng.

Ico nhắm đôi mắt lại và giơ hai tay lên trước mặt cậu. Ánh sáng truyền qua mí mắt cậu sáng nhức nhối.

Cậu rụt rè mở mắt ra để xem và thấy người lính đang đứng, chân dạng ra, căng hai vai để giữ thanh kiếm ngang. Một ánh sáng rực rỡ tỏa ra từ lưỡi kiếm bao bọc lấy cơ thể người đàn ông. Ánh sáng rộng ra, bao bọc hai người lính gác, Ico, và thầy tu.

Ico nhận ra rằng ánh sáng không chỉ đến từ lưỡi kiếm – hai bức tượng cũng tỏa sáng. Ánh sáng của chúng dội lại ánh sáng rực rỡ của thanh kiếm, và cả hai tỏa sáng hơn đến khi một tia sáng đi từ một bức tượng sang bức tượng kia và chúng đâm xuống ở giữa với một tiếng rắc lớn, tách ra để lộ một lối đi bên ngoài. Ánh sáng mờ đi.

“Bọc thanh kiếm lại,” thầy tu ra lệnh. Người lính gác nhìn xuống, hoang mang. Màu của lưỡi kiếm đã trở lại màu bạc đục. Sau một lát chần chừ, ông ấy cung kính tra lại thanh kiếm vào bao của nó.

Thầy tu dẫn họ đi giữa hai bức tượng. Ico với tới để chạm vào một bức tượng khi họ đi qua. Tượng đá lạnh dưới những đầu ngón tay của cậu. Ánh sáng đó đến từ đâu? cậu tự hỏi. Ico phát hiện một khoảng trống ở một bên của bức tượng với một vết chạm khắc nhỏ bên trong nó. Cậu nhìn gần hơn và nhận thấy nó là một mô tả của một con quỷ nhỏ. Nó giống thứ gì đó từ một câu chuyện cổ tích.

Lối đi mở hướng vào cột trung tâm. Ở ngay trung tâm là một cái bục nhỏ giống như một cái núm đồng nhô lên từ mặt sàn, với những tấm thép chĩa ra từng dải từ bục.

Thầy tu nói gì đó rất nhỏ với người lính gác không có kiếm mà Ico không nghe thấy được. Ông ấy đi qua núm đồng, kéo thứ gì đó giống như một cái đòn bẩy cạnh nó, và toàn bộ thiết bị bắt đầu quay từ từ. Với một tiếng dội lại lanh lảnh, mặt sàn bắt đầu nâng lên và Ico suýt ngã.

Căn phòng đang đi lên!

Ico với tới và chạm vào một trong những bức tường, cảm thấy nó lướt qua những đầu ngón tay cậu. Một âm thanh trầm rung động phía dưới họ, và cậu có thể cảm thấy những sự rung động đi lên qua căn phòng. Họ tiếp tục lên cao.

Về tất cả những điều Ico đã mong chờ để tìm thấy trong Lâu đài trong Màn sương, đây không phải là một trong các điều đó. “Thật ngạc nhiên,” cậu thì thầm.

Người lính gác tử tế trao cho cậu một cái gật đầu trấn an. Thầy tu đứng xoay lưng lại với Ico, trong khi người kia giữ thanh kiếm với mũi của nó chống lên sàn, nắm chặt cán nó bằng hai tay như thể ông ấy sợ nó thể đi mất nếu không không giữ chặt.

Tiếng lanh lảnh dừng lại.

Họ đã lên đến trên đỉnh của cây cột. Ở đây có một cặp tượng đá khác. Lần này, người lính gác bước về phía trước và kéo thanh kiếm với chỉ một cái gật đầu từ thầy tu. Lại một lần nữa, ánh sáng rực rỡ chạy qua hai bức tượng và chúng tách ra.

Ngay khi đường đi thông suốt, thầy tu bước qua, mép của bộ áo choàng của ông lơ lửng trên sàn.

Không có dấu hiệu nào của sự sống. Những âm thanh duy nhất chính là những bước chân của họ và tiếng kim loại lạch cạch của áo chuỗi giáp của hai lính gác. Lâu đài bị bỏ hoang.

Đầu tiên, Ico nghĩ họ đã tiến vào một căn phòng với một trần thấp, nhưng khi cậu đi vào xa hơn, cậu nhận ra sai lầm của mình. Căn phòng chỉ có vẻ thấp bở vì họ đã bước vào phía dưới một cái cầu thang rộng lớn đi lên từ trung tâm của một căn phòng rộng mênh mông. Ico hít một hơi thở sâu, run rẩy khi cậu thở ra.

Bạn có thể tổ chức một lễ hội với mọi người ở Toksa ở đây và vẫn không lấp đầy được nơi này. Những tảng đá nhỏ bao lấy sàn nhiều như số ngôi sao cậu có thể thấy được từ tháp canh của làng, và Ico nghi ngờ rằng có bất kỳ người thợ săn nào trong làng đủ mạnh để bắn một mũi tên có thể chạm tới trần nhà hình vòm.

Tất cả những thứ này để làm gì?

Những hốc đá tạo thành một mạng lưới dọc theo các bức tường, mỗi cái hốc chứa một cái thùng giống như quan tài lạ lùng với những góc tròn. Không, Ico nhận ra. Không chỉ giống quan tài. Chúng là những cỗ quan tài đá.

Ico theo thầy tu lên các bậc thang, nhớ lại một câu chuyện Oneh đã kể cho cậu.

Ngày xửa ngày xưa, câu chuyện bắt đầu, những linh hồn độc ác được sinh ra trong khoảng trống tách biệt bầu trời và mặt đất. Cảm thấy phẫn uất vì chúng thiếu một vương quốc của chính mình, chúng đánh cắp những đứa trẻ con người và cướp lấy linh hồn của đám trẻ. Nhưng khi chúng nhận ra rằng những linh hồn bị đánh cắp không thể lấp đầy sự trống rỗng bên trong trái tim chúng, chúng sục sôi giận dữ đến khi cơn thịnh nộ của chúng biến thành như những con quỷ nhỏ bên trong chúng.

Mặc dù chúng đã tạo những con quỷ, những linh hồn trống rỗng yếu hơn chính sự giận dữ của chúng, và chúng nhanh chóng bị buộc tuân theo mệnh lệnh của lũ quỷ. Quẫn trí, đấng Sáng tạo vội vàng lấp đầy những linh hồn trống rỗng bằng linh hồn của chính chúng, nghĩ là điều này có thể xoa dịu chúng. Nhưng những con quỷ trong trái tim của những linh hồn bắt lấy những linh hồn đó và ngấu nghiến chúng, vì vậy dù cho đấng Sáng tạo đưa bao nhiêu linh hồn vào những linh hồn trống rỗng, chúng không bao giờ thỏa mãn mà còn thậm chí trở nên đói khát hơn trước.

Lúng túng, đấng Sáng tạo tập hợp lại những pháp sư từ khắp nơi trên trái đất và yêu cầu họ tạo ra những cỗ quan tài đá để giam giữ những lính hồn trống rỗng cùng với những con quỷ của chúng. Đó là những người đã đau khổi khi những linh hồn trống rỗng bắt con cái của họ, vì vậy đó phải là những con người tống giam chúng, đấng Sáng tạo tuyên bố.

Những cỗ quan tài họ làm ra trông như những quả trứng dài và được phủ với những câu thần chú thanh lọc và xoa dịu được tạc nên. Những pháp sư niệm những câu thần chú của họ, làm thấm đẫm những vết tạc với sức mạnh, và những cỗ quan tài bắt đầu phát sáng. Giống như thiêu thân lao vào lửa, những linh hồn trống rỗng bị kéo vào ánh sáng và vì thế bị giam giữ vĩnh viễn.

Ico nhìn qua những cỗ quan tài đá xếp hàng trên những bức tường. Những cái này cũng được tạc với những chữ cái và họa tiết cổ. Tay Ico chạm vào tấm Phù hiệu trên ngực cậu. Những vòng xoắn của các họa tiết không hoàn toàn khác với các họa tiết trên đá. Ico cũng không để đọc được nó, mặc dù cậu nghĩ những họa tiết trên cỗ quan tài trông hơi giống những hình dáng bên ngoài của con người.

Nó có nghĩa là gì?

“Đây là tấm Phù hiệu của cháu,” trưởng lão đã nói khi ông đặt tấm tunic lên đầu Ico. “Tấm Phù hiệu này đã nhận ra cháu.”

Trưởng lão có một tia sáng hy vọng trong đôi mắt ông khi ông trao cho Ico tấm Phù hiệu – vậy tại sao mình không thể nghĩ về điều gì khác ngoài những câu chuyện đáng sợ khi mình nhìn vào những tảng đá này? Ico ấn một tay vào ngực mình, ép chặt tấm vải vào da cậu.

Trong khi Ico đứng choáng váng, thầy tu tiến đến bức tường và nhìn lên một trong những cỗ quan tài.

“Đó,” ông nói, chỉ vào một cái trông không khác biệt gì với hàng trăm cái khác ngoại trừ một điều: nó phát ra một ánh sáng màu xanh da trời nhạt, co dãn như một trái tim đang đập.

Khi thầy tu đan những ngón tay của ông lại và bắt đầu tụng một lời cầu nguyện chỉ dành riêng cho dịp này, cỗ quan tài đá trượt về phía trước trên đáy của nó, hiện ra từ bức tường với tiếng kèn kẹt nặng nề của đá đè trên đá. Hai người lính gác bước lui lại nửa bước, đôi sừng trên cái mũ sắt của họ chạm vào nhau khi họ đi, gửi đi một âm thanh kêu vang qua sảnh.

Nắp của cỗ quan tài từ từ mở ra.

“Mang Vật tế lại,” thầy tu ra lệnh. Hai người lính gác cứng đờ và trao đổi những ánh nhìn. Ngay cả không nhìn thấy gương mặt họ, rõ ràng rằng không ai trong bọn họ dám làm nhiệm vụ tiếp theo của mình.

“Ngươi.” Thầy tu chỉ người lính gác với đôi sừng chĩa lên. “Mang thằng bé lại.”

Đôi vai chuỗi giáp của người lính gác kia hạ xuống với sự khuây khỏa khi bạn của ông xoay lại đi về phía Ico, kéo lê đôi chân mình khi ông ấy đi.

Ico ngắm nghía những người huấn luyện của mình khi người lính gác tiến đến. Những người này đã được chọn để bảo vệ Vật tế, một công việc hết sức danh giá. Họ chắc chắn được tán dương trên chuyến trở về thủ đô của mình. Ngay cả trước khi họ nhận trách nhiệm này, những lính gác đền thờ được hưởng đặc quyền như những người bảo vệ niềm tin. Họ là những chiến binh thần thánh của Thần Mặt trời, người bảo vệ của những linh hồn. Họ cũng là những người đàn ông của quyền lực – bất kể liệu quyền lực đó không đến từ họ mà từ những thầy tu phía sau họ – những người sử dụng quyền lực lên những viên chức của nhà thờ và thủ đô. Họ đã chịu đựng những cuộc huấn luyện khắc nghiệt để giành được thứ hạng của mình. Cả lòng trung thành của họ đối với vương quốc và niềm tin của họ vào đấng Sáng tạo người tạo ra bầu trời và mặt đất và đặt những linh hồn vào nhân loại không thể sai lầm.

Và tuy nhiên, là con của những người cha và cũng là những người cha, thật không phải là một nhiệm vụ dễ dàng khi đưa đứa trẻ khỏe mạnh, vô tội đang đứng trước họ vào một số mệnh không biết.

Thầy tu đã giảng giải cho họ trước khi họ rời thủ đôi. “Lâu đài trong Màn sương không yêu cầu chúng ta nhẫn tâm. Lòng trắc ẩn các ngươi sẽ cảm thấy với Vật tế và nỗi buồn các người sẽ cảm nhận với việc để lại thằng bé đều cần thiết cho sự thành công của nghi lễ. Lâu đài sẽ không chỉ hài lòng với Vật tế. Chúng ta cũng phải trao ra nỗi đau trong trái tim chúng ta để làm thỏa mãn nó.”

Buồn bã không sao cả. Khóc than không sao cả. Cảm thấy giận dữ không sao cả.

Nhưng không được bỏ chạy. Lâu đài phải có quyền được hưởng của nó.

Thầy tu đi qua Vật tế và đặt một bàn tay lên vai cậu. Cậu bé có sừng nhìn lên ông, mặc dù rõ ràng từ biểu hiện của thằng bé thì đầu óc cậu đang ở một nơi khác.

Thầy tu biết rằng người lính gác có một đứa con – một thằng bé xấp xỉ tuổi với Vật tế. Ông biết nỗi đau mà người đó đã cảm thấy trong chuyến đi của họ bất cứ khi nào người lính nhìn thấy xiềng xích trên hai tay Vật tế. Làm sao ông ấy không tưởng tượng, Nếu nó là con mình thì sao?

Nhưng nếu họ không dâng Vật tế, cơn giận dữ của lâu đài sẽ không dịu đi. Và nếu cơn thịnh nộ của lâu dài được giải phóng, sẽ không còn có tương lai cho thế giới loài người.

Mặc dù đấng Sáng tạo của chúng ta tốt, thầy tu nghĩ, đấng Sáng tạo của chúng ta không có quyền tuyệt đối. Kẻ thù của đấng Sáng tạo của chúng ta là kẻ thù của hòa bình trên thế giới này – liên kết với quỷ dữ, kẻ tạo ra từ một hiệp ước với âm phủ. Vì vậy loài người phải đổ máu và dâng vật tế, và liên minh với vị thần, rằng quỷ dữ sẽ bị đẩy lùi. Chúng ta có thể làm gì khác?

Tha thứ cho ta, thầy tu thì thầm sâu trong tim ông.

“Cầm lấy tay tôi,” cuối cùng người lính gác nói, giơ cánh tay về phía Ico, cảm ơn tấm mặt che đi những giọt nước mắt của ông.

Người lính gác nhẹ nhàng nâng cậu khỏi sàn nhà. Với những bước đi nặng nề, ông mang cậu đến cỗ quan tài đá nằm rung động với ánh sáng, gầm gừ… thèm khát.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.