Điệu Valse Giã Từ

Chương 6




Cơ thể không còn sức sống của Ruzena nằm trong một căn phòng nhỏ thường được dành cho bác sĩ trực đêm. Nhiều người bu lại đó, thanh tra hình sự cũng đã ở đó, ông ta vừa tra hỏi Frantisek và ghi lại lời khai. Frantisek thêm một lần nữa bỉêu lộ ý muốn bị bắt.

- Có phải anh đưa cô ấy viên thuốc này không, đúng hay không? – viên thanh tra hỏi.

- Không!

- Thế thì đừng nói là anh đã giết cô ấy.

- Cô ấy lúc nào cũng nói với tôi là sẽ tự tử - Frantisek nói.

- Tại sao cô ấy lại nói với anh là cô ấy sẽ tự tử?

- Cô ấy nói rằng cô ấy sẽ tự tử nếu tôi tiếp tục làm hại đời cô ấy. Cô ấy không muốn có đứa con. Rằng cô ấy thà tự tử còn hơn có đứa con!

Bác sĩ Skreta bước vào phòng. Anh thân mật chào viên thanh tra và lại gần người chết, anh lật lông mi để nhìn màu sắc đồng tử.

- Bác sĩ, anh là sếp của cô y tá này – viên thanh tra hỏi.

- Đúng thế.

- Anh có nghĩ là cô ấy dùng thuốc độc dễ lấy tại cơ sở của anh không?

Skreta lại quay về phía cái xác của Ruzena và bảo miêu tả chi tiết cái chết của cô. rồi anh nói:

- Tôi cho là cô ấy không thể lấy được thuốc hay chất độc nào tại các phòng kham của chúng tôi đâu. Chắc chắn đây là chất alcaloide. Loại nào, khám nghiệm tử thi sẽ cho biết.

- Nhưng làm thế nào mà cô ấy có thuốc đó được?

- Khó nói lắm.

- Lúc này, tất cả đều kỳ bí – viên thanh tra nói. – Mục đích cũng vậy. Người đàn ông trẻ tuổi này nói với tôi là cô ấy đang đợi một đứa con của anh ta và cô ta muốn phá thai.

- Chính thằng cha đó đã bắt buộc cô ấy làm thế đấy! – Frantisek kêu lên.

- Ai cơ? – viên thanh tra hỏi.

- Tay nghệ sĩ kèn trompet. Hắn muốn chiếm cô ấy của tôi và đã bắt cô ấy phá thai đứa con của tôi! Tôi đã theo dõi họ! hắn ta có mặt với cô ấy ở chỗ hội đồng.

- Tôi có thể khẳng định điều đó – Skreta nói – Chính xác là sáng nay chúng tôi đã xem xét một lá đơn xin phá thai của cô y tá này.

- Nghệ sĩ kèn có đến cùng cô ấy không? – Thanh tra hỏi.

- Có – Skreta nói – Ruzena đã tuyên bố đó là cha của đứa bé.

- Đó là một lời nói dối! Đứa con là của tôi! – Frantisek hét lên.

- Không ai nghi ngờ - bác sĩ Skreta nói – nhưng Ruzena cũng phải nhờ một người đàn ông đã có gia đình nhận làm bố đứa bé để hội đồng có thể cho phép chấm dứt mang thai.

- Vậy thì ông đã biết đó là một lời nói dối! – Frantisek hét lên với bác sĩ Skreta.

- Theo luật, chúng ta phải đặt lòng tin vào những gì người phụ nữ tuyên bố. Vì Ruzena nói với chúng tôi cô ấy mang thai của ông Klima và ông ấy cũng khẳng định những lời tuyên bố đó, không ai trong số chúng tôi có quyền nghĩ ngược lại hết.

- Nhưng ông không tin ông Klima là bố đứa trẻ chứ? – viên thanh tra hỏi.

- Không

- Ý kiến của ông dựa vào đâu?

- Ông Klima đến thành phố nước nóng này hai lần duy nhất, và đến rất ít thời gian. Ít có khả năng đã có quan hệ tình dục giữa ông ấy và cô y tá của chúng tôi. Khu điều trị nước nóng này là một thành phố quá nhỏ, nếu có chuyện gì thì tôi phải biết rồi. việc ông Klima nhận làm bố rất có khả năng là thủ thuật mà Ruzena đã thuyết phục ông ấy giúp cô để hội đồng cho phép phá thai. Quả thật, ông đây chắc chắn không đồng ý cho phá thai đâu.

Nhưng Frantisek không còn nghe thấy những gì Skreta nói nữa. Gã đứng trân trối đó, không nhìn thấy gì hết. Gã chỉ còn nghe thấy những lời của Ruzena "Anh sẽ khiến tôi phải tự tử mất, chắc chắn anh sẽ bắt tôi phải tự tử" và gã biết mình là nguyên nhân cái chết của cô, tuy thê gã không hiểu tại sao tất cả dường như không thể giải thích nổi. Gã ở đó như một kẻ dã man đối mặt với một điều kỳ diệu, gã ở đó như ở trước một cái không thực, đột nhiên điếc đặc và mù loà bởi vì lý trí của gã không sao hình dung được cái không thể hiểu đang giáng xuống đầu gã.

(Frantisek khốn khổ của tôi, anh sẽ lạc lối suốt cuộc đời và anh sẽ không hiểu gì hết trừ việc tình yêu của anh đã giết chết người đàn bà mà anh yêu, anh sẽ mang theo sự chắc chắn đó như một dấu vết kinh rợn bí mật, anh sẽ lạc lối như một kẻ mắc bệnh cùi mang đến những thảm hoạ không thể giải thích với người mà hắn yêu, anh sẽ lạc lối cả đời như một nhân tố của bất hạnh).

Gã tái nhợt, gã đứng im lìm như một bức tượng muôi và thậm chí không nhìn thấy một người đàn ông khác, lảo đảo, vừa đi vào trong phòng, người mới đến lại gần người chết, nhìn cô rất lâu và vuốt tóc cô.

Bác sĩ Skreta thì thầm:

- Một vụ tự tử. Thuốc độc.

Người mới đến lắc đầu dữ dội:

- Một vụ tự tử à? Tôi có thể lấy đầu tôi ra mà thề rằng người phụ nữ này đã không tự kết liễu đời mình. Và nếu cô ấy uống thuốc độc, thì chỉ có thể là một vụ ám sát thôi.

Viên thanh tra ngạc nhiên nhìn người mới đến. Đó là Bertlef, và đôi mắt ông ta đang rực cháy một ngọn lửa giận dữ.

Jakub xoay chìa khoá nổ máy xe. Anh đi qua những biệt thự cuối cùng của khu điêu dưỡng và đã đến một khung cảnh rộng lớn. Anh tiến về phía biên giới và không muốn vội vã. Ý nghĩ mình đang lăn bánh ở đây lần cuối cùng khiến khung cảnh trở nên thân thiết với trái tim anh và cũng lạ thường. Mỗi lúc anh lại có cảm giác mình không biết gì về nó, nó khác với những gì anh tưởng tượng và thật tiếc vì không thể ở đây lâu thêm được.

Nhưng ngay lập tức anh cũng tự nhủ rằng mọi chậm trễ, dù một ngày hay nhiều năm, cũng đều không thể nào thay đổi được gì với những cái giờ đang làm anh đau đớn, anh sẽ không thể biết được khung cảnh này một cách thân thiết hơn anh biết ngày hôm nay. Anh phải chấp nhận mình sắp rời bỏ nó mà không biết gì về nó, chưa uống được đến cạn kiệt những duyên dáng của nó, và anh sẽ rời bỏ nó vừa như một người mang nợ vừa như một chủ nợ.

Sau đó, anh nghĩ đến cô gái trẻ mà anh đã đưa cho viên thuốc độc tưởng tượng bằng cách tuồn vào tuýp thuốc, và anh tự nhủ sự nghiệp giết người của mình là ngắn ngủi hơn cả trong số các sự nghiệp khác. Mình đã là một kẻ giết người trong khoảng mười tám tiếng đồng hồ, anh tự nhủ, và mỉm cười.

Nhưng ngay lập tức, anh có một phản đối. Không đúng vậy, anh là kẻ giết người trong khoảng thời gian không ngắn như thế. Anh là kẻ giết người và vẫn sẽ là kẻ giết người cho đến khi chết. Bởi vì dù viên thuốc màu xanh nhạt có thuốc độc hay không, điều đó không quan trọng, mà quan trọng là anh đã tin điều dó và mặc dù tin điều đó anh vẫn đưa nó cho cô gái không quen và đã không làm gì để cứu cô ta.

Và anh bắt đầu nghĩ đến tất cả những điều đó với sự vô lo của một người hiểu là hành động của mình được đặt trên sân khấu thuần tuý kinh nghiệm chủ nghĩa.

Vụ giết người của anh thật lạ. Đó là một cuộc giết người không động cơ. Không có một lợi thế nào đó có lợi cho kẻ giết người để có thể làm mục đích. Ý nghĩa chính xác của nó là gì? Ý nghĩa duy nhất của cuộc giết người của anh rõ ràng là để anh biết mình là một kẻ giết người.

Cuộc giết người với tư cách là kinh nghiệm chủ nghĩa, hành động để hiểu biết chính mình, điều đó nhắc anh nhớ đến điều gì đó, phải, đó là Raskolnikov – nhân vật chính trong tiểu thuyết Tội ác và Trừng phạt của Dostoeievski – Raskolnikov đã giết người để biết liệu con người có quyền giết một người thấp kém hơn mình và liệu mình có đủ sức để chịu đựng cái chết đó không, qua cuộc giết người đó, anh đã tự tra vấn về bản thân.

Phải, có cái gì đó mang anh lại gần với Raskolnikov, sự vô ích của cuộc giết người, tính chất lý thuyết của nó. Nhưng vẫn có những khác biệt: Raskolnikov tự hỏi liệu con người tài năng có quyền hy sinh một cuộc đời thấp kém hơn nhân danh lợi ích của chính mình. Khi Jakub đưa tuýp thuốc cho cô y tá, trong đầu anh không có chút gì giống như vậy. Jakub không tự hỏi mình liệu con người có quyền hy sinh cuộc sống của một người khác không. Ngược lại, Jakub từ lâu nay vẫn đinh ninh rằng con người không có cái quyền đó, Jakub sống trong một thế giới nơi người ta hy sinh cuộc sống những người khác cho những tư tưởng trừu tượng. Jakub biết rõ bộ mặt những kẻ đó, bộ mặt lúc vô tội đến láo xược, lúc hèn nhát đến phát buồn tẻ, những bộ mặt đã thi hành với thế hệ sau, có xin lỗi, nhưng rất cẩn thận, một bản án mà chính họ cũng biết sự tàn bạo. Jakub biết rõ những bộ mặt đó, và anh căm ghét chúng. Ngoài ra, Jakub biết là tất cả mọi người đều muốn cái chết của một người khác và chỉ hai điều khiến hắn có thể khiến hắn không phạm phải tội giết người: nỗi sợ bị trừng phạt và khó khăn về mặt vật lý của việc giết người. Jakub biết là nếu tất cả mọi người đều có thể giết bí mật và từ xa, nhân loại sẽ biến mất trong vòng vài phút. Thế nên anh phải kết luận cái chủ nghĩa kinh nghiệm của Raskolnikov là thuần tuý hão huyền.

Nhưng thế thì tại sao anh lại đưa thuốc độc cho cô y tá? Đó không phải là một sự tình cờ hoàn toàn chứ? Raskolnikov quả thật đã sắp xếp và chuẩn bị rất lâu tội ác của mình, trong khi Jakub đã hành động dưới vỏ một sự thúc đẩy bột phát. Nhưng Jakub biết là cả anh cũng đã chuẩn bị cho cuộc giết người của mình một cách vô thức trong nhiều năm trời và cái giây phút mà anh đưa thuốc độc cho Ruzena là đường nứt nơi cả cuộc đời đã qua của anh, tất cả sự căm ghét con người của anh, như một cái đòn bẩy, chui xuống.

Khi Raskolnikov giết nhanh chóng một mụ cho vay lãi, biết rõ mình đang vượt qua một cái ngưỡng đáng sợ, anh ta biết là mình đang coi thường luật của Thượng Đế, anh ta biết rằng bà già dù không có giá trị gì cũng vẫn là một tạo vật của Chúa. Nỗi sợ mà Raskolnikov cảm thấy, Jakub không hề hay biết. Với anh, con người không phải là những tạo vật thần thánh. Jakub yêu sự tinh tế và lớn lao của tâm hồn, nhưng anh tự cho là chúng không hề là những phẩm chất của con người. Jakub biết rõ con người, chính vì thế nah không yêu họ. Jakub có tâm hồn lớn lao, chính vì thế anh đưa thuốc độc cho họ.

Thế thực ra mình là kẻ giết người vì có tâm hồn lớn lao, anh tự nhủ, và ý nghĩ đó anh thấy lố bịch và đáng buồn.

Raskolnikov, sau khi giết mụ cho vay lãi, không còn sức để chế ngự cơn bão khủng khiếp của hối hận. Trong khi Jakub, người trong tâm can tin là con người không có quyền hy sinh cuộc sống của người khác, lại không hề cảm thấy hối hận.

Anh thử tưởng tượng cô y tá thực sự chết để xem liệu mình có cảm giác phạm tội nào không. không, anh không thấy gì như thế hết. Anh đưa tâm trí bình tĩnh và yên ổn đi qua một miền đất mềm dịu và tươi cười đang chào anh.

Raskolnikov đã trải qua tội ác của mình như một bi kịch và cuối cùng đã gục ngã dưới sức nặng của hành động. Và Jalub ngạc nhiên vì hành động của mình nhẹ nhàng đến thế, không nặng nề chút nào, không hề đè nặng lên anh. Và anh tự hỏi nếu sự nhẹ nhàng đó lại không đáng sợ bằng những cảm giác lên cơn của nhân vật người Nga.

Anh đi chầm chậm và ngừng những suy nghĩ của mình để nhìn cảnh vật. Anh tự nhủ toàn bộ câu chuyện viên thuốc độc chỉ là một trò chơi, một trò chơi không hậu quả, như toàn bộ cuộc đời anh tại một đất nước mà anh không để lại chút dấu vết nào, không một sợi rễ nào, không một vệt nào phía sau và từ đó giờ đây anh ra đi như một ngọn gió, một búng không khí.

Sau khi đã cho một phần tư lít máu, Klima sốt ruột hết sức đợi bác sĩ Skreta trong phòng chờ. Anh không muốn rời bỏ thành phố mà không từ biệt Skreta và nhờ anh chăm sóc Ruzena một chút. "Cho đến lúc phẫu thuật, tôi vẫn có thể thay đổi ý kiến". Anh vẫn còn nghe thấy những lời của cô y tá và chúng làm anh sợ. Anh e rằng sau khi mình đi, Ruzena sẽ thoát khỏi ảnh hưởng của mình và sẽ quay lại với quyết định đầu tiên.

Cuối cùng bác sĩ Skreta cũng xuất hiện. Klima lao về phía anh, chào tạm biệt và cảm ơn vì đã chơi trống rất hay.

- Đó là một buổi biểu diễn lớn đấy – bác sĩ Skreta nói – Ông đã chơi thật tuyệt. Miễn là chúng ta lại có thể bắt đầu nữa! Cần phải suy nghĩ cách tổ chức những cuộc biểu diễn như thế này ở các thành phố nước nóng khác.

- Đúng rồi, rất sẵn sàng, tôi đã rất hạnh phúc được chơi với các anh ở đây! – nghệ sĩ kèn nói vội vã và thêm vào – Tôi còn muốn nhờ anh thêm một việc nữa. Anh có thể chăm sóc Ruzena một chút không. Tôi sợ cô ấy lại nổi nóng. Phụ nữ thật là khó đoán trước.

- Cô ấy sẽ không nổi nóng đâu. Hiện tại, đừng lo gì hết – bác sĩ Skreta nói – Ruzena không còn sống nữa.

Mất một lúc Klima không thể hiểu nổi và bác sĩ Skreta giải thích điều gì đã xảy ra. Rồi anh nói:

- Đó là một vụ tự tử, nhưng dù sao cũng còn nhiều điểm khó hiểu. Vài người tò mò tại sao cô ấy tự kết liễu đời mình chỉ một giờ sau khi cùng anh đến hội đồng. Không, không, không, đừng lo ngại gì hết – anh nói tiếp và cầm lấy tay nghệ sĩ kèn trompekt vì thấy anh tái mặt đi – Thật may mắn cho anh, Ruzena có một tay bạn trai là một thợ máy trẻ, hắn cho rằng đứa con là của hắn. Tôi đã tuyên bố rằng giữa anh và cô ấy chưa từng có chuyện gì và cô y tá chỉ đơn giản là đã thuyết phục anh nhận làm bố đứa trẻ, vì hội đồng không chấp nhận cho phá thai khi cả hai bố mẹ còn độc thân. Thế nên đừng có cắn câu nếu người ta hỏi anh nhé. Anh đang nóng nảy, cái đó trông rất rõ ràng và rất đáng tiếc đấy. Anh cần nghỉ ngơi, bởi vì chúng ta còn rất nhiều buổi biểu diễn trước mặt nữa.

Klima mất hẳn khả năng nói. Nhiều lần anh cúi xuống trước bác sĩ Skreta, và nhiều lần anh nắm lấy tay anh ta. Kamila đợi anh trong căn phòng khách sạn. Klima ôm cô trong vòng tay không nói năng gì và hôn lên má cô. Anh hôn từng nơi một trên khuôn mặt cô, rồi anh quỳ xuống và hôn chiếc váy, từ trên xuống dưới cho đến đầu gối.

- Anh làm sao thế?

- Không sao. Anh chỉ thấy hạnh phúc làm sao khi có được em. Anh hạnh phúc làm sao vì có em trên đời.

Họ nhét đồ đạc vào túi du lịch và đi ra xe. Klima nói anh mệt và bảo cô lái xe.

Họ đi trong im lặng. Klima, thật sự kiệt sức, nhưng lại cảm thấy một sự nhẹ nhõm lớn lao. Anh vẫn hơi lo lắng với ý nghĩ mình có thể bị thẩm vấn. Thế thì Kamila sẽ biết phong phanh chuyện gì đó. Nhưng anh tự nhắc đi nhắc lại những gì bác sĩ Skreta đã nói với anh. Nếu người ta thẩm vấn anh, anh sẽ đóng vai người vô tội (và khá tầm thường tại cái đất nước này) của con người ga lăng đã tự nhận mình là bố đứa bé để giúp đỡ người khác. Sẽ không ai trách anh về điều đó, ngay cả Kamila nếu tình cờ cô biết được.

Anh nhìn cô. Vẻ đẹp của cô choán đầy không gian nhỏ hẹp của chiếc xe như một thứ nước hoa mạnh. Anh tự nhủ trong suốt cuộc đời mình sẽ chỉ còn muốn hít thứ nước hoa này mà thôi. Rồi anh tin mình nghe thấy tiếng nhạc xa xăm và dịu dàng của chiếc kèn trompet của anh và anh tự hứa cả đời sẽ chơi thứ nhạc đó chỉ để vui lòng người đàn bà này, duy nhất và thân thiết nhất

Mỗi lần cầm tay lái, cô lại cảm thấy mạnh mẽ hơn và độc lập hơn. Nhưng lần này, không chỉ bánh lái cho cô sự bảo đảm. Đó còn là lời nói của người lạ mặt gặp ở hành lang khách sạn Richmond. Cô không thể quên chúng được. Và cô không thể quên khuôn mặt người đó, nam tính hơn rất nhiều khuôn mặt nhẵn lỳ của chồng cô. Kamila nghĩ là cô chưa từng biết đến người đàn ông nào xứng đáng với danh hiệu đàn ông hơn thế.

Cô nhìn ngang khuôn mặt mệt mỏi của nghệ sĩ kèn trompet, trên đó lúc nào cũng thường trực những nụ cười vô hồn khó hiểu, trong khi bàn tay anh vuốt ve âu yếm vai cô.

Sự dịu dàng quá mức này không làm cô thích thú và không cham được đến cô. Bởi vì nó đang có những điều không thể giải thích, nó chỉ khẳng định thêm một lần nữa là nghệ sĩ kèn có bí mật nào đó đang giấu cô, và cô không được chấp nhận ở đó. Nhưng lúc này, việc nhận ra điều đó, nhẽ ra phải làm cô đau khổ, cô lại thấy thờ ơ.

Người đàn ông đó đã nói gì? Rằng anh ra đi mãi mãi. Một nỗi hoài nhớ dài và dịu dàng bóp lấy tim cô. Không chỉ hoài nhớ về người đàn ông đó mà còn là về cái cơ hội đã mất đi. Và không chỉ cơ hội đó, mà còn là cơ hội bản thân cô. Cô hoài nhớ tất cả những cơ hội mà cô đã để trôi qua, mất đi, mà cô đã bỏ lỡ, ngay cả những cơ hội mà cô chưa từng bao giờ có.

Người đàn ông đó nói là cả đời mình anh đã sống như một kẻ mù quáng và thậm chí anh không ngờ là cái đẹp có tồn tại. Cô hiểu anh. Bởi vì cô cũng vậy. Cô cũng sống trong sự mù qúang. Cô chỉ nhìn thấy một con người duy nhất, dưới ngọn đèn pha của lòng ghen tuông. Và điều gì sẽ xảy ra nếu ngọn đèn đó đột nhiên tắt ngấm? Trong ánh sáng mờ ảo của ngày hàng nghìn những người khác hiện lên, và con người mà cho đến giờ cô vẫn tin là người duy nhất trên đời bỗng chốc chỉ còn là một người trong số rất nhiều người.

Cô cầm lái, cảm thấy tự tin và đẹp, và vẫn tự nhủ, có phải thực sự tình yêu đã kéo cô đến với Klima hay chỉ là nỗi sợ mất anh? Và nếu nỗi sợ lúc đầu mang hình dáng sợ hãi của tình yêu, thì có phải theo thời gian tình yêu (mệt mỏi và kiệt sức) không thoát khỏi được hình dáng đó nữa? Có phải cuối cùng chỉ còn lại nỗi sợ đó, một nỗi sợ không đi cùng với tình yêu? Và sẽ còn lại gì nếu cô mất nốt nỗi sợ đó?

Nghệ sĩ kèn trompet, bên cạnh cô, mỉm cười khó hiểu.

Cô quay về phía anh và tự nhủ nếu cô ngừng ghen tuông thì sẽ không còn lại gì hết cả. Cô lao nhanh, cô nghĩ ở đâu đó trước mặt trên con đường cuộc đời, một đường nét đã được vạch sẵn mang ý nghĩa là sự đoạn tuyệt với nghệ sĩ kèn. Và lần đầu tiên ý nghĩ đó không làm cô sợ hãi lẫn hoảng hốt.

21.

Olga đi vào căn hộ của Bertlef và xin lỗi:

- Xin lỗi vì đường đột vào nhà ông. Nhưng tôi đang ở tâm trạng không thể ở một mình được. Đúng thế, tôi không làm phiền các ông chứ?

Trong căn phòng có Bertlef, bác sĩ Skreta và viên thanh tra, thanh tra trả lời Olga:

- Cô không làm phiền đâu. Cuộc trò chuyện của chúng tôi không hề có tính chính thức nào hết.

- Ông thanh tra là bạn thân của tôi – bác sĩ Skreta giải thích với Olga.

- Thưa các ông, tại sao cô ấy lại làm thế? – Olga hỏi.

- Cô ấy đã cãi lộn với bạn trai, và nhẽ ra phải cãi nhau thì cô ấy lại tìm kiếm một cái gì đó trong túi và đã uống một viên thuốc độc. Chúng tôi không biết gì hơn và tôi e rằng chúng tôi sẽ không bao giờ biết gì hơn – thanh tra trả lời.

- Thưa ông thanh tra – Bertlef nói chắc nịch – tôi xin ông để ý đến những gì tôi đã nói trong lời khai của tôi. Tôi đã ở đây, chính đây, cùng với Ruzena, đêm cuối cùng của đời cô ấy. Có lẽ tôi đã không nhấn đủ mạnh đến cái chính yếu. Đó là một đêm tuyệt vời và Ruzena đã vô cùng hạnh phúc. Cô gái kín đáo đó chỉ cần vứt bỏ vòng gò bó trong đó những người xung quanh thờ ơ và cáu kỉnh nhốt cô ấy vào để trở thành thơm con người rạng ngời đầy tình yêu, tinh tế và tâm hồn đẹp, con người mà các ông không thể ngờ được ở trong cô ấy. Tôi khẳng định với các ông là, đêm hôm qua, tôi đã mở cho cô ấy cánh cửa của một cuộc sống khác và chính hôm qua cô ấy đã bắt đầu muốn sống. Nhưng sau đó, ai đó đã ngáng ngang đường... – Bertlef nói, đột nhiên trở nên suy nghĩ, và hạ giọng nói thêm – Tôi cảm thấy ở đây có sự can thiệp của địa ngục.

- Cảnh sát hình sự không quan tâm lắm đến các thế lực địa ngục – thanh tra nói.

Bertlef không nhận ra sự châm chọc đó.

- Giả thuyết tự tử đúng là không hề có ý nghĩa, - ông nói tiếp – các ông hãy hiểu đi, tôi xin các ông đấy! Cô ấy không thể tự giết mình vào đúng lúc cô ấy muốn bắt đầu được sống! Tôi nhắc lại điều đó với các ông, tôi không chấp nhận người ta kết tội cô ấy tự tử.

- Thưa ông thân mến, - thanh tra nói – không ai kết tội cô ta tự tử cả, vì lý do tự tử là không phải là một tội ác. Tự tử không phải là việc liên quan đến cảnh sát. Đó không phải là việc của chúng tôi.

- Đúng – Bertlef nói – với ông tự tử không phải là một lỗi bởi vì với ông cuộc sống không có giá trị. Nhưng tôi, thưa ông thanh tra, tôi không biết ngoài đó ra còn có tội lỗi nào lớn hơn. Tự tử là cách giết người tồi tệ nhất. Người ta có thể giết người để trả thù hoặc vì tham lam, nhưng ngay cả tham lam cũng là biểu hiện một tình yêu ngược đời với cuộc son. Nhưng tự tử, đó là ném cuộc sống dưới chân Chúa, như một sự nhạo báng. Tự tử, đó là nhổ vào mặt đấng Sáng tạo. Tôi nói với các ông là tôi sẽ làm tất cả để chứng minh rằng cô gái đó vô tội. Bởi vì các ông nhất định nói là cô ấy đã tự kết liễu đời mình, hãy giải thích cho tôi là tại sao? Các ông đã phát hiện được lý do nào rồi?

- Các lý do của tự tử luôn luôn huyền bí – thanh tra nói – Thêm nữa, tìm kiếm chúng không thuộc trách nhiệm của chúng tôi. Đừng bắt tôi làm thêm việc. Tôi đã có quá nhiều việc, và tôi chỉ có đủ thời gian để thực hiện chúng thôi. Hồ sơ dĩ nhiên chưa đóng, nhưng tôi có thể nói trước với ông là tôi không nghiêng về giả thuyết có bàn tay kẻ giết người ở đây.

- Tôi ngưỡng mộ - Bertlef nói giọng rất cay nghiệt – tôi ngưỡng mộ sự nhanh chóng mà ông đi theo dấu vết về một cuộc đời một con người.

Olga nhận ra viên thanh tra mặt đỏ phừng phừng. Nhưng ông tự kiểm soát được mình và nói, sau một lúc im lặng, giọng khá thân thiện:

- Tốt lắm, thế thì tôi đồng ý giả thuyết của ông, nghĩa là đã có một vụ giết người. Thế thì chúng ta phải hỏi nó đã được thực hiện thế nào. Chúng tôi đã tìm thấy một tuýp thuốc an thần trong túi nạn nhân. Người ta có thể giả thiết rằng cô y tá muốn lấy một viên thuốc để trấn an, nhưng ai đó đã luồn một viên thuốc khác có cùng hình dáng và có chứa thuốc độc vào tuýp thuốc đó.

- Ông có nghĩ là Ruzena để thuốc độc vào tuýp thuốc an thần không? – bác sĩ Skreta hỏi.

- Rõ ràng, Ruzena đã có thể lấy thuốc độc mà cô ấy để sẵn trong túi ở một chỗ đặc biệt nào đó, bên ngoài tuýp thuốc. Đó là những gì có thể xảy ra trong trường hợp đây là một vụ tự tử. Nhưng nếu chúng ta nghì đến giả thuyết giết người, thì phải chấp nhận rằng ai đó đã tuồn vào tuýp thuốc một viên thuốc độc giọng hệt với những viên thuốc của Ruzena. Đó là khả năng duy nhất.

- Xin lỗi nếu tôi nói trái ông – Bác sĩ Skreta nói – nhưng không dễ chế tạo được thuốc độc từ alcaloide để tạo được một viên thuốc có hình dạng bình thường đâu. Để làm được điều đó, phải vào được một phòng thí nghiệm dược, điều đó là không thể đối với bất kỳ ai ở thành phố này.

- Ông muốn nói là không ai có thể một mình làm được viên thuốc đó?

- Điều đó không phải là không thể, nhưng rất khó.

- Tôi chỉ cần biết là có thể thôi – thanh tra nói và tiếp tục – bao giờ cần phải hỏi ai có lợi khi giết cô gái đó. Cô ta không giàu, nên có thể loại bỏ động cơ tiền bạc. Cũng có thể loại bỏ luôn động cơ chính trị và gián điệp. Chỉ còn lại các động cơ mang tính cá nhân. Ai là những người tình nghi? Đầu tiên là tình nhân của Ruzena, người đã tranh cãi gay gắt với cô ta trước đó, ngay trước cái chết của cô ta. Các ông có tin là anh ta đã đưa thuốc độc cho cô gái không?

Không ai trả lời được câu hỏi của viên thanh tra và ông ta tiếp tục:

- Tôi không nghĩ vậy. Anh thanh niên đó rất yêu Ruzena. Anh ta muốn cưới cô ta. Cô ta mang thai với anh ta, và thậm chí nếu đứa trẻ là con một người khác, điều quan trọng là anh thanh niên tin là cô ta mang thai với mình. Khi biết cô ta muốn phá thai, anh ta cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng cần phải hiểu, điều này rất quan trọng, rằng Ruzena vừa từ hội đồng xem xét phá thai, chứ hoàn toàn không phải phá thai về! Với anh chàng tuyệt vọng của chúng ta, vẫn chưa có gì bị mất. Cái thai vẫn còn ở đó và anh ta sẵn sàng làm tất cả để giữ nó. Thật phi lý nếu nghĩ là anh ta có thể đưa thuốc độc cho cô gái vào lúc đó, trong khi anh ta không muốn gì hơn là sống với cô ta và có con với cô ta. Mặt khác, bác sĩ đã giải thích với chúng ta là anh thanh niên không đủ khả năng làm được viên thuốc độc có hình dáng một viên thuốc bình thường. Anh chàng đó có thể có ở đâu những quan hệ để làm được nó? Các ông có thể giải thích cho tôi được không?

Bertlef, mà viên thanh tra vẫn hướng về từ nãy đến giờ, nhún vai:

- Chuyển sang những người tình nghi khác. Có nghệ sĩ kèn trompet đến từ thủ đô. Ở đây ông ta làm quen với người quá cố và chúng ta sẽ không bao giờ biết quan hệ của họ đi đến đâu. Dù sao, họ cũng khá thân thiết để cô gái không ngần ngại nhờ ông ta nhận mình là bố bào thai và để ông ta đưa cô gái đến hội đồng chuyên trách phá thai. Tại sao cô lại nhờ ông ta chứ không phải người khác? Không khó để đoán. Tất cả những người đàn ông có vợ sống ở thành phố nhỏ này sẽ e ngại gặp rắc rối với vợ mình nếu chuyện vỡ lở. Chỉ ai đó không sống ở đây mới có thể giúp được việc đó cho Ruzena. Thêm nữa, tin đồn cô ta đang chờ một đứa con của một nghệ sĩ danh tiếng chỉ càng làm cô y tá thấy vinh dự và không thể để thoát nghệ sĩ kèn được. Cho nên chúng ta có thể giả định là ông Klima đã chấp nhận không suy nghĩ gì giúp cô ta việc đó. Đó có phải là lý do để giết cô y tá khốn khổ không? Rất ít khả năng, như bác sĩ đã giải thích, Klima là bố thật sự của đứa bé. Nhưng chúng ta cũng thử đặt giả thuyết đó đi. Cứ cho là Klima là người bố và điều đó ông ta hoàn toàn không thích thú gì. Các ông có thể giải thích cho tôi tại sao ông ta lại giết cô y tá, trong khi cô ta đã chấp nhận phá cái thai và việc phẫu thuật đã được chính thức thông qua? Hay thưa ông Bertlef, chúng ta phải coi Klima là thủ phạm giết người?

- Ông không hiểu tôi rồi – Bertlef nhẹ nhàng nói – tôi không muốn đưa ai lên ghế điện hết. Tôi chỉ muốn thanh minh cho Ruzena. Bởi vì tự tử là tội lỗi lớn nhất. Ngay cả một cuộc sống đầy đau khổ cũng mang một giá trị bí mật. Ngay cả cuộc sống ở ngưỡng cửa cái chết cũng là một điều tuyệt vời. Người chưa bao giờ nhìn thấy cái chết trước mặt thì không biết nó, nhưng tôi, thưa ông thanh tra, tôi biết điều đó và chính vì thế tôi mới nói với ông là tôi sẽ làm tất cả để chứng minh cô gái đó vô tội.

- Nhưng tôi cũng thế, tôi cũng muốn thử - thanh tra nói – quả thật, vẫn còn một nghi can thứ ba. Ông Bertlef, doanh nhân người Mỹ. Ông ta đã thú nhận qua đêm với người quá cố đêm cuối cùng của cô ta. Chúng ta có thể phản đối rằng nếu ông ta là thủ phạm thì hẳn đó không phải là việc mà ông ta sẽ bột phát thú nhận với chúng ta. Nhưng sự phản đối đó không đứng vững được. Trong buổi biểu diễn tối qua, cả phòng đã nhìn thấy ông Bertlef ngồi cạnh Ruzena và ông đã đi cùng cô ta vào cuộc buổi biểu diễn. Ông Bertlef biết rất rõ là trong trường hợp đó tốt hơn hết là phải nhanh chóng thú nhận là đã bị người khác trông thấy. Ông Bertlef khẳng định với chúng ta là cô y tá đã rất thoả mãn đêm đó. Điều đó không phải để làm chúng ta bất ngờ! Ngoài việc ông Bertlef là một người hấp dẫn, ông còn là một thương gia người Mỹ, người có nhiều tiền và hộ chiếu, với nó ông có thể đi du lịch khắp nơi trên thế giới. Ruzena đã bị nhốt vào cái hố đó và vô vọng tìm cách thoát ra. Cô ta có một anh bạn trai là người chỉ đòi cưới cô ta, nhưng đó chỉ là một thợ máy ở đây. Nếu cưới anh ta, số phận của cô ta sẽ vĩnh viễn an bài, và cô ta sẽ không bao giờ thoát được khỏi đây. Ở đây cô ta không còn ai khác, thế nên cô ta không muốn cắt đứt với anh ta. Nhưng cùng lúc đó cô ta tránh phải dính liền với anh ta cả đời, bởi vì cô ta không muốn giết chết những hy vọng của mình. Và đột nhiên xuất hiện một người đàn ông từ xa đến với những cử chỉ tuyệt vời, và ông chú ý đến cô. Cô đã tin là ông ta sẽ cưới mình và mình sẽ thoát hoàn toàn được cái xó xỉnh heo hút này. Thoạt tiên, cô biết cách cư xử với tư cách là tình nhân bí mật, nhưng sau đó cô ngày càng trở nên khó chịu. Cô cho ông ta hiểu là cô sẽ không bao giờ buông tha ông và cô ta bắt đầu doạ dẫm ông. Nhưng Bertlef đã có vợ và vợ ông, nếu tôi không nhầm, là người đàn bà được yêu, mẹ của một đứa bé trai một tuổi, ngày mai sẽ từ Mỹ đến. Bertlef muốn bằng mọi giá tránh được bê bối. Ông ta biết là Ruzena lúc nào cũng mang trên người một tuýp thuốc an thần và ông ta biết những viên thuốc đó trông như thế nào. Ông ta có rằng nhiều quan hệ ở nước ngoài và cũng có rất nhiều tiền. Việc có một viên thuốc độc trông giống hệt viên thuốc của Ruzena chỉ là chuyện vặt. Trong cái đêm hạnh phúc đó, trong khi cô tình nhân đang ngủ, ông ta luồn thuốc độc vào tuýp thuốc. Tôi nghĩ, thưa ông Bertlef – viên thanh tra trang trọng lên giọng kết luận – ông là người duy nhất có một động cơ để giểt cô y tá và cũng là người duy nhất có đầy đủ phương tiện. Tôi mời ông thú tội đấy.

Trong phòng im lặng. Thanh tra nhìn vào mắt Bertlef thật lâu và Bertlef cũng nhìn lại với một cái nhìn cũng kiên nhẫn và im lặng như thế. Khuôn mặt ông không bỉêu lộ sự hoảng hốt hay bực bội. Cuối cùng ông nói:

- Tôi không ngạc nhiên vì kết luận của ông. Vì ông không có khả năng tìm ra thủ phạm, ông phải tìm ra ai đó để đổ vấy tội. Đó là một trong những bí ẩn kỳ lạ của cuộc đời, rằng những người vô tội phải trả nợ cho những kẻ thủ phạm. Tôi xin ông bắt tôi đi.

Vùng nông thôn bị một bóng tối mềm mại xâm chiếm. Jakub dừng xe tại một ngôi làng cách đồn biên giới chỉ vài cây số. Anh muốn kéo dài thêm nữa những giây phút cuối cùng ở đất nước mình. Anh xuống xe và đi vài bước vào một con phố không quen.

Phố này không đẹp. Dọc những ngôi nhà thấp đặt những cuộn dây sắt gỉ, một bánh xe máy kéo bị bỏ rơi, những mẩu kim loại cũ. Đó là một ngôi làng bị lãng quên và xấu xí. Jakub tự nhủ những sợi dây thép vương vãi này giống như một từ bậy bạ mà đất nước anh nói với anh thay cho lời tạm biệt. Anh bước đi đến cuối đường, ở đó có một quảng trường với một đầm lầy. Cái đầm cũng bị lãng quên, phủ đầy đậu lăng nước. Bên bờ vài con ngỗng đang đi liêu xiêu, một thằng bé đang cố dùng gậy xua chúng về phía trước.

Jakub quay người đi về xe. Anh nhìn thấy một thằng bé đang đứng sau cửa kính một ngôi nhà. Thằng bé, khoảng năm tuổi, nhìn qua cửa kính về phía cái đầm. Có thể nó đang quan sát những con ngỗng, có thể nó đang quan sát thằng bé đang lùa ngỗng bằng cây gậy. Nó đứng sau cửa kính và Jakub không thể rời mắt khỏi nó. Đó là một khuôn mặt trẻ con, và cái khiến Jakub chú ý là cặp kính của nó. Thằng bé đeo đôi kính to mà người ta có thể đoán được là mắt kính rất dày. Cái đầu nhỏ và đôi kính thì to. Thằng bé mang cặp kính như một gánh nặng. Nó đeo kính như đeo số phận của mình. Nó nhìn qua đôi mắt kính như qua một hàng rào sắt. Phải, nó đeo hai cái mắt kính đo như một hàng rào sắt mà nó sẽ mang theo suốt đời mình. Và Jakub nhìn đôi mắt thằng bé qua hàng rào sắt cặp kính và anh đột nhiên cảm thấy buồn ghê gớm.

Bỗng nhiên như thể bờ một dòng sông vỡ ra và nước lan tràn khắp thôn quê. Đã lâu lắm rồi Jakub không buồn. Nhiều năm lắm rồi. Anh chỉ biết đến sự chua chát, cay đắng, nhưng không phải nỗi buồn. Và giờ đây anh bị nó xâm chiếm và không thể nhúc nhích được nữa.

Anh nhìn thấy trước mình thằng bé đeo cái hàng rào và anh thương hại thằng bé và đất nước mình, và anh nghĩ đất nước này anh đã rất ít yêu và đã ghét và anh buồn vì tình yêu kém cỏi và thua sút đó.

Và đột nhiên anh nghĩ chính sự kiêu căng đã ngăn cản anh yêu đất nước này, sự kiêu căng của quý tộc, sự kiêu căng của tâm hồn lớn, sự kiêu căng của sự tinh tế, một sự kiêu căng xấu xa đã khiến anh không yêu được những người giống như mình và làm anh căm ghét bởi vì anh thấy họ là những kẻ giết người. Và anh lại nhớ là mình đã tuồn thuốc độc vào tuýp thuốc của một cô gái không quen và chính anh cũng là kẻ giết người. Anh là một kẻ giết người và sự kiêu căng đã thu anh lại thành cát bụi. Anh đã trở thành một trong số họ. Anh là anh em của những kẻ giết người ngao ngán kia.

Thằng bé đeo cặp kính lớn đang đứng ở bậu cửa sổ, như thể hoá đá, cái nhìn dính chặt vào cái đầm nước. Và Jakub nhận ra thằng bé đó đứng đó chẳng để làm gì, rằng nó không phải là thủ phạm của bất cứ gì và rằng nó đã được sinh ra với đôi mắt kém, mãi mài. Và anh còn nghĩ là điều anh trách cứ ở người khác là cái gì đó bản thân đã vậy, với nó họ sinh ra đời và mang theo mình như một hàng rào nặng nề. Và anh nghĩ chính mình cũng không có bất cứ quyền ưu tiên nào đối với sự lớn lao của tâm hồn và sự lớn lao của tâm hồn cao nhất là yêu người khác dù họ là những kẻ sát nhân.

Và một lần nữa anh lại nhìn thấy viên thuốc màu xanh nhạt kia, và tự nhủ mình đã tuồn nó vào tuýp thuốc của cô y tá đáng ghét như một lời xin lỗi, như một đề nghị được nhận vào hàng ngũ của họ, như một lời cầu xin họ chấp nhận anh với họ, dù anh luôn từ chối bị tính là một người trong số họ.

Anh đi nhanh về phía xe, mở cửa, cầm lấy vô lăng và đi về phía biên giới. Mới ngày hôm qua thôi, anh còn nghĩ hẳn đó sẽ là giây phút nhẹ nhõm, rằng anh sẽ vui vẻ đi khỏi đây. Rằng anh sẽ rời khỏi một nơi mà anh đã nhầm lẫn sinh ra và ở đó, quả thật, anh không ở nhà anh. Nhưng vào lúc này, anh biết mình đang rời khỏi tổ quốc duy nhất của mình và anh sẽ không có tổ quốc nào khác hết.

- Ống đừng vội mừng – thanh tra nói – Nhà tù sẽ không mở cánh cửa vinh quang của nó để ông bước vào như Jesus Christ trèo lên đỉnh Golgotha đâu. Không bao giờ ý nghĩ ông có thể giết cô gái đó thoáng qua trong đầu tôi. Nếu tôi tố cáo ông, thì chỉ để ông không khăng khăng là cô ta bị giết.

- Tôi rất mừng là ông không coi lời tố cáo của ông là nghiêm túc – Berrtlef nói giọng dàn hoà – Và ông có lý đấy, tôi thật không biết điều khi cứ muốn ông phải mang công lý lại cho Ruzena.

- Tôi vui mừng nhận ra các ông đã dàn hoà – bác sĩ Skreta nói – Có một điều it nhất cũng có thể củng cố chúng ta một chút. Dù cái chết của Ruzena thế nào, đêm cuối cùng của cô ấy cũng là một đêm tuyệt vời.

- Hãy nhìn mặt trăng kia – Bertlef nói – Nó giống hệt như ngày hôm qua và nó đã biến căn phòng này thành một khu vườn. Mới hai mươi tư giờ trước, Ruzena còn là nàng tiên của khu vườn đó.

- Và công lý không có gì khiến chúng ta quan tâm được đến thế - bác sĩ Skreta nói – Công lý không phải là một thứ con người. Có công lý của những đạo luật mù quáng và độc ác, và có thể có một công lý khác, công lý cao hơn, nhưng tôi không hiểu được công lý đó. Tôi luôn có cảm giác đang sống trong một thế giới nằm ngoài công lý.

- Thế nào cơ? – Olga ngạc nhiên.

- Công lý không liên quan đến tôi – bác sĩ Skreta nói – Đó là cái gì đó nằm ở bên ngoài và bên trên tôi. Dù sao, đó cũng là một thứ không con người. Tôi sẽ không bao giờ hợp tác với cái quyền lực bẩn thỉu đó.

- Ông muốn nói – Olga hỏi – là ông sẽ không chấp nhận giá trị phổ quát nào?

- Những giá trị mà tôi chấp nhận không có gì chung với công lý hết.

- Chẳng hạn? – Olga hỏi.

- Chẳng hạn tình bạn – bác sĩ Skreta dịu dàng trả lời.

Mọi người im lặng và thanh tra đứng dậy tạm biệt. Lúc đó Olga bỗng nghĩ đến điều gì đó:

- Những viên thuốc của Ruzena có màu gì?

- Màu xanh nhạt – thanh tra trả lời, và nói thêm vẻ quan tâm – Nhưng tại sao cô lại hỏi thế?

Olga sợ thanh tra đoán được suy nghĩ của mình và vội lấp liếm:

- Tôi đã nhìn thấy cô ấy cầm một tuýp thuốc. Tôi tự hỏi có phải chính tuýp thuốc đó không.

Thanh trfa không đoán được suy nghĩ của cô, ông đã mệt và chúc mọi người ngủ ngon.

Khi ông ta đã đi, Bertlef nói với bác sĩ:

- Những người phụ nữ của chúng ta chuẩn bị đến rồi đấy. Anh có muốn chúng ta đi gặp họ không?

- Chắc chắn rồi. Hôm nay ông sẽ uống gấp đôi liều thuốc – bác sĩ nói cầu khẩn và Bertlef lui vào căn phòng nhỏ bên cạnh.

- Ngày xưa chú đã đưa thuốc độc cho Jakub – Olga nói – Đó là một viên thuốc màu xanh nhạt. Và chú ấy luôn giữ nó trên người. Cháu biết điều đó.

- Đừng bịa ra những chuyện ngu ngốc. Chú chưa bao giờ đưa cho ai cái gì như thế cả - bác sĩ nói giọng chắc nịch.

Rồi Bertlef, đeo một chiếc cà vạt mới, quay trở lại từ căn phòng nhỏ bên cạnh và Olga chào hai người ra về.

Bertlef và bác sĩ Skreta ra ngoài theo lối đi hai bên trồng cây dương.

- Nhìn trăng kìa – Bertlef nói – Tin tôi đi, bác sĩ, buổi tối và buổi đêm hôm qua thật là tuyệt vời.

- Tôi tin ông, nhưng ông cũng phải cẩn thận đấy. Những biến động đi kèm không tránh khỏi với một đêm đẹp đẽ, sẽ thực sự khiến ông gặp nguy hiểm lớn đấy.

Bertlef không trả lời, và khuôn mặt ông toả rạng một niềm kiêu hãnh sung sướng

- Ông có vẻ đang rất cao hứng – bác sĩ Skreta nói.

- Anh không nhầm đâu, nếu nhờ tôi mà đêm cuối cùng của cô gái ấy là một đêm đẹp đẽ thì tôi sẽ rất vui sướng.

- Ông biết đấy – đột nhiên bác sĩ Skreta nói – có một điều rất lạ mà tôi muốn đề nghị ông, nhưng tôi không dám. Tuy thế, tôi có cảm giác hôm nay chúng ta đã trải qua một ngày đặc biệt đến mức tôi có thể có đủ can đảm...

- Thế thì nói đi, bác sĩ!

- Tôi muốn ông nhận tôi làm con nuôi của ông.

Bertlef dừng lại, sửng sốt, và bác sĩ Skreta giải thích các mục đích của anh:

- Liệu có điều gì mà tôi có thể từ chối anh không, bác sĩ? – Bertlef nói – Tôi chỉ ngại vợ tôi thấy việc này hơi kỳ. Cô ấy kém con nuôi của tôi mười lăm tuổi. Điều đó có thể không, theo quan điểm luật pháp?

- Không ở đâu ghi là một đứa con nuôi phải ít tuổi hơn bố mẹ nuôi cả. Đó không phải là một đứa con đẻ ra, mà chính xác là một đứa con nuôi.

- Anh có chắc chắn không?

- Từ lâu tôi đã hỏi các luật sư rồi – bác sĩ Skreta nói vẻ rụt rè thanh thản.

- Anh cũng biết đấy, ý tưởng này thật lạ và tôi hơi ngạc nhiên – Bertlef nói – nhưng hôm nay tôi đang vui vẻ đến mức chỉ muốn một điều, đó là đem lại hạnh phúc cho những người xung quanh. Nếu điều đó mang lại cho anh hạnh phúc – con trai của ta....

Và hai người ôm choàng lấy nhau giữa phố.

Olga nằm dài trên giường (đài phòng bên cạnh im tiếng) và cô thấy rõ ràng là Jakub đã giết Ruzena và ngoài cô và bác sĩ Skreta, không ai có thể biết được điều đó. Tại sao anh đã làm điều đó, có lẽ không bao giờ cô biết được. Một cơn ớn lạnh sợ hãi chạy qua người cô, nhưng sau đó (vì chúng ta cũng biết, cô rất biết tự quan sát) cô ngạc nhiên nhận ra cơn ớn lạnh đó lại rất tuyệt và sự sợ hãi đó đầy kiêu hãnh.

Hôm qua, cô đã làm tình với Jakub vào đúng lúc hẳn anh đang ngổn ngang những suy nghĩ ghê gớm nhất và cô đã nuốt anh hoàn toàn vào mình,với cả những suy nghĩ đó.

Làm thế nào mà điều đó không làm cô kinh tởm? Cô nghĩ. Làm thế nào mà mình sẽ không (và sẽ không bao giờ) tố cáo anh ta? Có phải mình cũng sống bên ngoài công lý không?

Nhưng cô càng tự vấn như thế, cô càng cảm thấy dâng lên trong mình một sự kiêu hãnh lạ lùng và sung sướng và cô giống như một cô gái mà người ta hiếp và đột nhiên cảm thấy một ham muốn khủng khiếp, càng mạnh mẽ hơn vì nó bị đẩy ra mạnh hơn....

Tàu đến ga và hai người phụ nữ bước xuống.

Một người khoảng ba mươi lăm tuổi đón nhận một cái hôn của Skreta. Người kia trẻ hơn, ăn mặc cầu kỳ, bế một đứa bé trên tay và Bertlef hôn người phụ nữ đó.

- Thưa bà, cho tôi xem đứa bé với nào – bác sĩ Skreta nói – tôi còn chưa được nhìn thấy nó!

- Nếu em không biết rõ anh, em sẽ nghi ngờ đấy, - bà Skreta cười lớn – Xem này, nó có một nốt ruồi ở môi trên, giống hệt của anh!

Bà Bertlef liền kiểm tra khuôn mặt của Skreta và nói, gần như kêu lên:

- Đúng vậy! Tôi chưa bao giờ nhận ra nó trên mặt anh khi tôi đến khám ở đây!

Bertlef nói:

- Đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến mức tôi tự cho phép mình xếp nó vào hàng những điều kỳ diệu. Bác sĩ Skreta, người mang lại sức khoẻ cho phụ nữ,thuộc vào hàng ngũ các thiên thần, và, cũng giống một thiên thần, anh đã đánh dấu của mình lên những đứa trẻ mà anh giúp để ra đời được. Đó không phải là một nốt ruồi, mà là dấu ấn của một thiên thần.

Tất cả mọi người ở đó đều vui vẻ với những lời giải thích của Bertlef và cười vui sướng.

- Ngoài ra – Bertlef quay sang người vợ duyên dáng của mình nói tiếp – Tôi long trọng tuyên bố với em rằng từ mấy phút trước bác sĩ đã trở thành người anh em của thằng John nhà ta. Anh em có cùng dấu hiệu như thế là hoàn toàn bình thường.

- Cuối cùng! anh đã quyết định... – bà Skreta nói với chồng, kèm với tiếng thở phào hạnh phúc.

- Tôi không hiểu gì cả, tôi không hiểu gì cả! – bà Bertlef nói, đòi được giải thích.

- Tôi sẽ giải thích tất cả cho em. Hôm nay chúng ta có rất nhiều chuyện để nói với nhau, nhiều chuyện để ăn mừng. Chúng ta sắp có một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời – Bertlef nói và khoác lấy tay vợ, rồi dưới ánh đèn ke tàu, cả bốn người đi ra khỏi nhà ga.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.