Trong Khoảng Viện Ấy - Twentine

Chương 37: Hoàn chính văn


Chương trước Chương tiếp

Sương sớm lùa qua bờ ruộng.

Tiếng suối chảy róc rách, nông phu xuống đồng cày cấy, bận rộn suốt cả nửa ngày trời.

Bên cạnh một thửa ruộng, ông lão nhàn rỗi bày ra bàn cờ sứt sẹo, tự mình đối dịch với chính mình. Mấy đứa trẻ áo quần rách rưới đuổi nhau chạy quanh gốc cây, cười đùa huyên náo cả một vùng.

Nông phu đi ngang qua thấy lão, bèn trêu chọc: “Lão Vương, chẳng phải nói năm nay bắt đầu trồng trọt sao? Ngồi không mà trồng hả?”

Vương Đại Thuận ừ hứ hai tiếng, đắc ý bảo: “Ta ngồi mà trồng đấy, ấy thế vẫn cứ mùa màng bội thu!”

Nông phu bĩu môi: “Được được được, nhặt tới nhặt lui, cuối cùng cũng để ông nhặt được một kẻ biết làm việc.”

Giữa đồng ruộng, một bóng người đang nỗ lực cúi đầu cày cấy.

Khói lửa dần tan, tân đế đăng cơ đổi niên hiệu, thiên hạ mới định, thấm thoát đã trôi qua một khoảng thời gian dài.

Những lối mòn xưa kia bị gót sắt chiến tranh dẫm nát, nay đã phủ lại màu xanh của mạ non. Bách tính lưu lạc lục tục hồi hương, nhà cửa đổ nát được tu bổ bằng bùn mới và cỏ tranh. Nơi thôn dã hẻo lánh này cuối cùng cũng dần tìm lại sự tĩnh lặng của ngày xưa.

Vương Đại Thuận là một kỳ nhân ở thôn Cao Hương, ông lão sống đơn độc đã sáu mươi năm. Đặc điểm lớn nhất của lão là tinh ranh, lười biếng, bủn xỉn và thích tính toán. 

Lẽ thường, hạng người này sẽ chẳng ai ưa nổi, nhưng Vương Đại Thuận thì khác. Bởi lão tuy keo kiệt nhưng thi thoảng vẫn làm việc thiện. Suốt những năm tháng loạn lạc, lão thường xuyên cứu giúp những đứa trẻ mồ côi trong thôn làng. Tuy tối ngày lão chỉ dạy chúng cách lén lút gian xảo, chiếm chút lợi nhỏ, nhưng cũng chẳng gây ra đại họa gì, nên người dân trong thôn đều mắt nhắm mắt mở bỏ qua.

Lão nhận nuôi tổng cộng năm đứa trẻ. Năm ngoái, bên bờ vực thung lũng, lão lại nhặt thêm được một người. Người này không thể gọi là trẻ con nữa, tuổi đã hơi lớn, lại bị trọng thương, đầu óc tựa hồ không được minh mẫn cho lắm, nhưng cứ để mặc vậy mà cũng sống sót qua khỏi. Nàng ít nói, nhưng làm việc lại là một tay cừ khôi, khiến Vương Đại Thuận mừng quýnh lên, thửa ruộng bỏ hoang nhiều năm năm nay cũng bắt đầu canh tác.

Vương Đại Thuận chơi cờ một lát, thấy lưng đau dữ dội, định bụng về nhà. Lão giơ tay lên, Nhị Thuận liền bắt đầu gom người.

“Về thôi, về thôi!” Cậu ta gọi người đang làm đồng: “A Thất! Về nhà thôi!”

A Thất đeo gùi đi tới. Nàng lớn tuổi nhất nhưng lại xếp hàng nhỏ nhất. Trong mấy đứa trẻ này, Tứ và Lục là nữ, Nhị, Tam, Ngũ là nam, đứa lớn nhất là Nhị Thuận cũng mới mười bốn tuổi.

A Lục chạy đến nắm tay nàng. Con bé rất thích A Thất, từ khi nàng đến, chúng chẳng phải làm việc gì nữa, suốt ngày chỉ biết chơi đùa. Hơn nữa A Thất cái gì cũng biết làm, so với pho tượng Thổ Địa mục nát phân nửa ở đầu thôn còn hữu dụng hơn nhiều. Muốn cái gì, cứ cầu nàng một tiếng là y như rằng được toại nguyện.

“A Thất, A Thất, muội muốn một thanh kiếm gỗ!”

“Đệ muốn lông chim trĩ rừng!”

“Ngày mai chúng ta ra sông bắt cá đi!”

A Thất nhìn chúng, đáp: “Được.”

Cả bọn mừng húm.

Thực ra lúc đầu khi A Thất mới đến, chúng rất bài xích. Bởi nhà vốn đã nghèo đến mức không có gạo nấu cơm, lại thêm một người lớn thế này đến ăn thì chẳng phải miếng ăn lại càng ít đi sao.

Về sau có một ngày, A Thất thấy chúng đói quá đêm nào cũng khóc oà lên, liền tự mình ra ngoài. Nàng đi hai ngày, lúc về cư nhiên săn được một con hươu. Nàng nướng thịt hươu cho chúng ăn, chỉ một bữa cơm mà xóa sạch mọi sự thù hằn.

Chúng từng hỏi nàng trước đây làm nghề gì, A Thất nói không biết. Vương Đại Thuận khẳng định: “Trước kia ngươi chắc chắn là một thợ săn tài giỏi, thợ săn bình thường sao mà săn được hươu!” A Thất bảo cũng có khả năng, trong ký ức vụn vỡ của nàng quả thực có một vùng núi sâu, dường như nàng đã ở đó rất lâu.

Sau bữa tối, Vương Đại Thuận tập hợp tất cả lại.

Đây là sắp tuyên bố chuyện lớn rồi.

“Cái lưng già của ta ngày một kém đi, phải nghĩ cách thôi.” Lão nheo đôi mắt ti hí, lộ ra một tia sáng quắc: “Gần đây ta nghe nói, ở thôn Thượng Dung phía thượng nguồn có một y quán rất lợi hại.”

Nhị Thuận: “Gia! Nhà ta đào đâu ra tiền mà xem bệnh chứ!”

Vương Đại Thuận tặc lưỡi một cái: “Ngươi nghe ta nói hết đã, y quán này kỳ lạ ở chỗ dường như không lấy tiền! Thế nên danh tiếng mới lẫy lừng đấy!”

Tam Thuận nhận xét: “Không lấy tiền? Có mà còn lừa đảo hơn cả mấy ông cháu ta!”

A Tứ cũng phụ họa: “Phải đó, sao có chuyện không lấy tiền được? Chẳng lẽ đại phu là kẻ ngốc sao?”

Nhắc đến kẻ ngốc, tất cả đồng loạt nhìn sang bên cạnh. A Thất đang tựa vào vách tường, nhìn tấm ván cửa lọt gió phía trước mà ngẩn người.

Nhị Thuận ngẫm nghĩ: “Cũng không chừng…”

Đánh nhau lâu như vậy, kẻ hóa điên nhiều vô số kể!

Bọn họ ở đó bàn bạc nửa ngày xem làm sao để lấy lòng thương hại, giả vờ đáng thương thế nào. A Thất chẳng nghe mấy, trong lòng chỉ nghĩ vài ngày nữa phải dán lại tấm ván cửa hỏng kia.

Hai ngày sau, Vương Đại Thuận dẫn theo Nhị Thuận, Tam Thuận và A Tứ xuất phát đi cầu y, để lại A Thất trông nom hai đứa nhỏ ở nhà.

Lại qua mấy ngày, Tam Thuận và A Tứ chạy hớt hải về, A Tứ vừa vào cửa đã gào lên.

“A Thất, A Thất! Mau cứu gia gia!”

A Thất đang dán giấy lên cửa sổ, nghe vậy liền dừng tay, hỏi: “Chuyện gì thế?”

Tam Thuận bảo: “Gia gia với Nhị Thuận bị người ta giữ lại rồi!”

Theo lời A Tứ kể, bọn họ đến y quán ở thôn Thượng Dung, đại phu y quán không có nhà, là học trò của chàng khám bệnh. Đúng là không lấy tiền thật, khám lưng cho Vương Đại Thuận xong còn bốc cả thuốc cho.

A Thất hỏi: “Vậy tại sao lại giữ người?”

Tam Thuận và A Tứ nhìn nhau, ấp úng: “Thì… gia gia thấy thuốc của họ hiệu nghiệm quá, rồi thì… rồi thì… Nhị Thuận thấy đã đến đấy rồi nên, nên…”

A Thất: “Lấy trộm?”

Tam Thuận trợn mắt: “Là lấy một ít thôi, sao gọi là trộm được! Vốn dĩ họ cũng đâu có lấy tiền!”

A Thất nhìn chúng trân trân, nhìn hồi lâu, Tam Thuận và A Tứ mới lảng tránh ánh mắt.

A Thất hỏi: “Họ muốn thế nào?”

A Tứ khóc thút thít: “Nói là phải đợi tiên sinh của họ về rồi báo lên quan! Thế thì tiêu đời rồi! A Thất tỷ mau nghĩ cách đi!”

A Thất bảo chúng ở lại nhà.

Nàng đem số con mồi săn được trước đó ra làm thịt, gói lại rồi lên đường.

Tiết cuối xuân, nơi thung lũng sông ngòi thêm phần thanh mát hơn những nơi khác.

Nàng men theo dòng sông đi ngược lên thượng nguồn. Dưới chân là những viên đá cuội được nước suối gột rửa trơn nhẵn qua năm tháng. Hai bên bờ cỏ cây đâm chồi, sắc xanh non mơn mởn. Gió từ cửa thung lũng thổi tới, mang theo hương vị thanh khiết của dòng nước, phả vào mặt mát rượi, không chút nóng bức.

A Thất vừa đi, tâm trạng vừa thư thái hẳn lên. Thậm chí có một khoảnh khắc nàng quên mất chuyến này là để đi chuộc hai ông cháu chẳng ra làm sao kia.

A Thất đi bộ nhanh, xuất phát lúc trời chưa sáng mà đến trưa đã tới nơi.

Thôn Thượng Dung quy mô lớn hơn thôn Cao Hương nhiều, nhà cửa san sát, trải dài từ sườn núi xuống chân núi.

Nơi cửa núi vào thôn có một trạm dừng chân cho khách đường xa nghỉ ngơi uống trà. Cái lều không lớn ngồi chật kín người. Kẻ nam người bắc, rất nhiều người ngưỡng mộ thanh danh mà đến tìm Dương đại phu xem bệnh. A Thất ngồi ở góc, nghe họ bàn tán về vị Dương đại phu này. Nói rằng chàng mấy năm trước đến đây lập y sở này, chẩn trị cho lưu dân và thương binh. Sau khi chiến tranh kết thúc cũng không rời đi. Giữa chừng chàng còn lâm trọng bệnh, mọi người cứ ngỡ là không qua khỏi, ai dè sau đó lại dưỡng khỏe lại, thật đúng là trời cao có mắt.

Trong lời kể của dân trong thôn, đây là một vị đại phu đức cao vọng trọng. Trước kia họ còn định quyên tiền tạc tượng cho chàng, Dương đại phu biết chuyện liền bảo không vội, đợi chết rồi hãy tạc.

Nói đến đây, trong lều trà tiếng cười vang lên không dứt.

Rời quán trà, A Thất mang đồ đi về hướng tây của thôn. Kết quả đi được nửa đường thì gặp Vương Đại Thuận và Nhị Thuận.

“A Thất!” Nhị Thuận chạy đến trước mặt nàng.

A Thất hỏi: “Chẳng phải hai người bị giữ lại sao?”

Nhị Thuận bảo: “Lại được thả rồi!”

Nghe cậu ta kể, là vị Dương đại phu kia đi nhập hàng từ nơi khác về tới nơi. Thấy họ cũng chẳng lấy bao nhiêu thuốc nên cho họ đi luôn.

A Thất hỏi: “Cứ thế thôi sao?”

“Ha ha!” Nhị Thuận cũng thấy hơi khó tin: “Ngài ấy bảo hai ông cháu ta là chuột sa chĩnh gạo, vừa ăn vừa mang về! Ha ha ha!”

Thật là kiêu ngạo biết bao.

Nhị Thuận lại nói: “Thật sự không sao rồi!”

Vương Đại Thuận ở bên cạnh chắp tay sau lưng, tặc lưỡi nếm trải: “Vị đại phu này không phải người thường đâu.”

Nhị Thuận bảo: “Gia, sớm biết có vị Phật sống thế này thì chúng ta nên đến từ sớm mới phải!”

A Thất nhìn hai ông cháu mặt không đỏ, tim không đập nhanh này, không nói gì. Vương Đại Thuận phất tay tuyên bố: “Về nhà thôi!”

A Thất: “Hai người về trước đi.”

Nhị Thuận hỏi: “Tỷ định làm gì?” Cậu ta nhìn thấy túi vải trong tay nàng: “Tỷ còn mang đồ đến chuộc bọn ta à? Không cần đưa nữa đâu, mang về đi.”

Vương Đại Thuận cũng bảo: “Giữ lấy, giữ lấy!”

A Thất nhìn bọn họ.

Hai ông cháu đối mắt với nàng hồi lâu, cái cổ như rụt lại một phân.

A Thất nói: “Hai người đi trước đi, ta sẽ về ngay.”

Lòng tốt không thể bị khinh nhờn. Nàng ở quán trà nghe các vị quân tử qua đường nói bao điều về vị Dương đại phu này, cảm thấy chàng mang lòng dạ nhân hậu, không nên bị phụ lòng.

Chỉ còn một đoạn đường này thôi, đến tạ tội một tiếng vốn là lẽ đương nhiên.

Y quán nằm ở phía tây của thôn làng, nơi kề cận với rừng núi.

A Thất đứng ở đầu đường nhìn về phía trước.

Mấy gian nhà nhỏ, trước nhà ngăn ra một khoảng sân, gọn gàng sạch sẽ.

Một bên dưới hiên nhà trong sân, những mẹt tre xếp thành tầng tầng lớp lớp, phơi đủ loại thảo dược. Bên còn lại thì làm một khu vườn nhỏ, trồng loại hải đường tây phủ đặc trưng của địa phương. Dưới bóng hoa dựng một gian đình gỗ đơn sơ, chính giữa là bộ bàn ghế đá màu trầm, được mài giũa mịn màng nhẵn bóng.

Khoảng sân nhỏ này nhìn qua một lượt là thấy sắp xếp hài hòa, vừa nhã nhặn vừa mộc mạc, thực sự mang mấy phần phong thái thanh tao không thuộc về nơi thôn dã hẻo lánh này.

A Thất rảo bước đi về phía sân.

Trong sân có một người đang đứng, dường như người ấy đang kiểm tra thảo dược trong mẹt tre. Người này mặc một bộ trường sam màu ngọc bích, cổ áo và ống tay lộ ra một đoạn áo lót trắng tinh khôi. Bóng lưng cao gầy, đoan chính, sắc xanh trắng đan xen. Đứng giữa hương thuốc bóng hoa, trông chẳng khác nào một bức họa.

A Thất đi tới cửa sân, cổng rào đang đóng, hẳn là giờ nghỉ trưa, tạm thời không tiếp bệnh nhân.

A Thất hướng về phía bóng lưng kia nói: “Xin hỏi, Dương đại phu có nhà không?”

Bóng người kia khựng lại một chút, rồi xoay người lại.

Gió thổi qua, trên mặt bàn đá lướt qua mấy cánh hoa màu hồng nhạt. Hương thuốc đắng nhẹ quyện với hương hải đường thoang thoảng, cùng với khí trời thanh tĩnh của núi rừng khiến tinh thần người ta trở nên bừng sáng.

Người đó đứng yên bất động, A Thất lại hỏi thêm lần nữa.

“Xin hỏi vị công tử đây, Dương đại phu có nhà không?”

Lúc này, có một thiếu niên học trò mặc nhu sam ngắn màu xám xanh từ trong nhà đi ra, nói với vị công tử trong sân: “Tiên sinh, dược liệu đã sắp xếp xong cả rồi, ngài xem là…” Cậu ta nói được một nửa, thuận theo ánh mắt của tiên sinh thì phát hiện ra A Thất. Cậu ta tưởng nàng đến xem bệnh nên bảo: “Giờ Ngọ nghỉ ngơi, đến khắc ba giờ Mùi mới mở cửa chẩn bệnh, cô nương đợi lát nữa hẵng quay lại.”

A Thất nghe cậu ta gọi người kia là “tiên sinh”, hơi khựng lại, hỏi: “Ngài chính là Dương đại phu?”

Trong lòng nàng hơi kinh ngạc. Nghe người dân trong thôn bàn tán, nàng cứ ngỡ Dương đại phu này hẳn thế nào cũng phải là một lão già cùng lứa tuổi với Vương Đại Thuận, nào ngờ lại trẻ thế này, trông chừng mới ngoài ba mươi, mà lại còn…

Dung mạo khí chất của người này…

Thực khiến người ta vừa gặp đã khó quên.

Im lặng một lát, Dương đại phu cuối cùng cũng mở lời, hỏi: “Nàng… không nhận ra ta sao?”

Giọng người ấy rất khẽ khàng, cũng may tai A Thất đủ thính. Nàng giải thích: “Dương đại phu, đây là lần đầu tiên ta tới đây, ta không phải đến xem bệnh. Vương Đại Thuận ở thôn Cao Hương, chính là lão nhân mà ngài vừa thả đi lúc sớm, ông ấy bảo ta đến trả chút tiền thuốc cho ngài. Ông ấy…” A Thất ngập ngừng, đành cứng miệng nói dối: “Ta không phải bao biện, nhưng ông ấy và Nhị Thuận không cố ý trộm đồ đâu, nhà ông ấy thực sự có chút, có chút…” Càng nói càng thấy khó mở lời, A Thất cảm thấy đối mặt với một y giả tích đức hành thiện thế này mà nói những lời dối trá đó thật khiến người ta không còn mặt mũi nào.

Trong lúc nàng ngập ngừng, Dương đại phu đã bước tới, chàng nhìn nàng từ trên xuống dưới, nhìn thật lâu, thật lâu.

Người ấy đang nhìn gì vậy?

A Thất không biết. Tất nhiên nàng cũng nhìn người ấy. Người dân trong thôn nói trước kia chàng từng lâm trọng bệnh, nhìn gần quả thực thấy giữa chân mày và cơ thịt mang theo mấy phần dấu vết bị bệnh tật dày vò. Sắc xanh nhạt dưới quầng mắt, những nếp nhăn mờ, đôi gò má gầy thanh tú, xương lông mày hơi nhô lên, chỗ nào cũng là dáng vẻ của người mang trọng bệnh vừa mới hồi phục.

Thế nhưng, khi đôi mắt ấy cuối cùng dừng lại nơi mắt nàng, sắc hồng nhạt của hải đường nơi đáy mắt người ấy dịu dàng đến mức khiến tim người ta thắt lại, hồn xiêu ý lạc, dứt khoát quăng hết thảy sương gió cũ xưa ra sau đầu.

“Dương đại phu, ta…” Mi mắt nàng vô thức run nhẹ: “Ta có mang theo chút đồ…”

Người ấy khẽ nói: “Đưa ta xem.”

A Thất mở túi vải trong tay ra, người ấy cúi đầu nhìn, bảo: “Là lộc nhung à.”

A Thất nhìn thứ mình mang đến: “Không biết bấy nhiêu có đủ đền không.”

“Không đủ.” Người ấy không chút do dự đáp.

A Thất ngẩn ra một thoáng, ngước mắt nghiêm túc hỏi: “Còn thiếu bao nhiêu?”

“Chuyện này à…” Người ấy khẽ lẩm bẩm, cũng không vội đáp ngay, đột nhiên chuyển chủ đề, tự giới thiệu: “Tại hạ là Dương Tri Hú, không biết xưng hô với cô nương ra sao?”

“Ta tên A Thất.”

“A Thất cô nương là người ở đâu?”

“Ta không biết…” A Thất giải thích: “Ta được Vương gia gia nhặt được ở thung lũng, không nhớ rõ chuyện trước kia nữa. Gia gia bảo ta có lẽ từng là một người thợ săn sống trong rừng?”

Dương Tri Hú nhìn vào đôi mắt nàng, hồi lâu sau bỗng phì cười một tiếng.

“Thợ săn cũng đâu có sống trong rừng chứ?”

Người ấy vừa cười, đôi mắt cong cong như vầng trăng khuyết, xoá đi mấy phần tĩnh lặng thanh khiết, tựa như tia nắng ấm áp xua tan sương mù buổi sớm, sưởi ấm từng tấc lòng, bất giác lại trở nên hoạt bát đáng yêu lạ thường.

Mặt A Thất nóng bừng, tim bỗng dưng đập rất nhanh.

Gió lại nổi lên, sơn cốc u thẳm, hương thơm thoang thoảng. Nốt ruồi son giữa chân mày nàng tựa như nửa hạt chu sa lạc rơi từ trời cao xuống.

Hốc mắt Dương Tri Hú nóng rực, chàng rút từ trong ngực ra một chiếc quạt, phẩy gió xua đi lệ nóng, bảo: “A Thất cô nương, nếu cô thật sự muốn trả tiền, chúng ta phải tính toán cho thật kỹ.” Người ấy hơi nghiêng đầu về phía gian nhà trong sân, mỉm cười mời gọi: “Mời vào, chúng ta mượn một chỗ nói chuyện chi tiết.”

Hoàn chính văn.



Loading...