So với vị Thống lĩnh Tả doanh vệ nọ dứt khoát đoạn tuyệt, kẻ còn ở lại trong thành Cảnh Thuận này xem chừng có phần khó lòng chống đỡ.
Với Dương Tri Hú mà nói, chuyện này như một cơn sóng ngầm âm ỉ. Thời gian trước, chàng nếu không phải đang tính kế giữ Đàn Hoa ở lại thì cũng là suy tư cách thú nhận quá khứ với nàng. Dẫu tâm tư nặng nề, thân thể không khoẻ, nhưng ít ra trong lòng còn có điều để mong ngóng.
Nay thì hay rồi, Đàn Hoa đến đi như gió, chỉ trong chớp mắt người đã chẳng thấy đâu.
Nàng tựa như cơn hồng thủy cuồn cuộn, lúc đến dập dờn sóng vỗ, nguy cơ tứ bề; lúc qua rồi, tưởng như sóng yên biển lặng.
Thế nhưng, trên bờ sông của chàng còn sót lại những gì?
Chỉ còn trống rỗng, vạn sự trống không.
Lưu công công cũng đã đi rồi. Trong thành Cảnh Thuận, người người đang kiểm điểm lại chút tàn dư sau hoạn nạn. Bao năm phấn đấu, chỉ trong một sớm đã tan thành mây khói, thực là khổ không thấu lời.
Cũng may ông trời còn đoái thương, liên tiếp mấy ngày nắng ráo, hoa tươi khoe sắc, lá sen xanh mướt, tường trắng ngói đen hòa cùng tiếng ve râm ran. Sự tĩnh lặng ấy như xoa dịu lòng dân trong thành, thắp lại ngọn lửa hy vọng khiến sức sống dần hồi sinh.
Vương Chấn Nghĩa, kẻ vừa từ cõi chết trở về mở tiệc chiêu đãi Dương Tri Hú. Vừa bước chân vào cửa, hắn đã quỳ sụp xuống trước mặt Dương nhị công tử. Dương Tri Hú đỡ hắn dậy, hắn liền ôm chầm lấy chàng mà khóc rống lên, nói rằng: “Dương huynh, huynh vì nhà ta mà chạy vạy ngược xuôi, gầy sọp cả đi thế này, đại ân đại đức ấy, kiếp này ta có làm trâu làm ngựa cũng không báo đáp cho hết!”
Vương Chấn Nghĩa tự than, nhà hắn trải qua kiếp nạn này, đến cái chậu hoa ra hồn cũng chẳng tìm thấy, nhưng may sao giữ được mạng. Còn mạng là còn hy vọng, huống hồ nhà hắn vốn có đường thông thương trên biển. Để báo đáp ơn cứu mạng, hắn chủ động đề nghị nhường bớt lợi nhuận từ thuyền buôn, nhưng Dương Tri Hú đã khước từ.
“Ngươi cũng đừng tìm Trình gia gây hấn nữa.” Dương Tri Hú nhìn thấu ý đồ trả thù của Vương Chấn Nghĩa, liền khuyên giải: “Trình gia xưa nay chỉ chăm chăm một lối, không mở rộng đường khác, lại chẳng chuẩn bị đường lui. Ngày thường tiêu xài hoang phí, đối nhân xử thế hà khắc thiếu ân nghĩa. Nay lâm hoạn nạn, đã chẳng còn cơ hội để đông sơn tái khởi. Các ngươi hiện giờ nên chú trọng bản thân, hồi phục sinh lợi, tranh thủ sớm ngày phục hồi nguyên khí mới là thượng sách.”
“Cha ta cũng khuyên như vậy, nói nhà họ giờ đến thê thiếp cũng nuôi không nổi rồi.” Vương Chấn Nghĩa tay nắm bình rượu, nói với Dương Tri Hú: “Lời cha ta nói ta không nghe, nhưng lời huynh nói, ta nghe!”
Hắn dốc mấy ngụm rượu, tìm lại được chút vui vẻ đã mất từ lâu. Quay sang nhìn Dương Tri Hú, thấy chàng ngồi bên song cửa, đưa mắt nhìn ra xa, thần sắc thoáng hiện nét thê lương.
“Sao vậy?” Vương Chấn Nghĩa chậm chạp nhận ra: “Huynh ngồi đó có ổn không? Cẩn thận kẻo trúng gió.”
Trúng gió hay không Dương Tri Hú cũng chẳng rõ, nhưng Hồng Phúc lâu này, căn phòng nhã gian quen thuộc này, vị trí bên cửa sổ này khiến chàng bất giác nhớ lại bóng lưng năm ấy đứng bên bờ sông nhỏ chờ đợi mình. Khi đó chàng vẫn còn đang dỗi hờn với nàng, ngồi tại đây, mặt thì đàm đạo với bè bạn, thực chất tâm trí đều đặt nơi người dưới lầu, trăn trở tìm cách vừa có thể trừng phạt nàng đôi chút, vừa khiến bản thân được vui lòng.
Ngày ấy càng nghĩ càng hân hoan, nay càng nghĩ lòng càng trống trải.
Gió ấm thổi qua, tóc mây vờn mặt, tình ý thương tâm.
Trong tòa thành này có quá nhiều nơi khiến chàng bất giác đau lòng.
Chỉ vẻn vẹn một mùa hè, chàng đã mua cho nàng không biết bao nhiêu món đồ chơi nhỏ ven đường, giờ đây tất thảy đều hóa thành chuyện cũ ngậm ngùi.
Vương Chấn Nghĩa gọi mấy tiếng mới kéo được hồn chàng trở về. Chàng đòi uống rượu, Vương Chấn Nghĩa đưa rượu cho chàng, tiện miệng nói: “Rượu ở đây vẫn chẳng bằng Lưu Hoa Các. Hiện giờ thân thể huynh không tốt, đợi khá hơn chút, tiểu đệ sẽ hộ tống huynh đi nếm thử Bách Hoa Nhưỡng!”
Chẳng biết là chạm vào nỗi niềm chi, sắc mặt Dương Tri Hú chợt đắng chát, bi thương từ tận đáy lòng dâng lên, chén rượu này cũng chẳng thể nuốt trôi được nữa.
—
Lý Văn dạo gần đây phải chịu áp lực tâm lý cực kỳ lớn.
Căn nguyên là do một lần lỡ miệng.
Trước đây, để tránh người thân lo lắng, Dương Tri Hú dù có khó chịu cũng rất ít khi biểu hiện ra ngoài. Nhưng lần này đến sức lực để ngụy trang chàng cũng chẳng còn, tâm tình đều viết rõ trên mặt khiến cả nhà Dương phủ sầu muộn khôn nguôi.
Một ngày dưới bếp, đám nha hoàn tụ tập bàn tán xem nên nấu món gì để nhị công tử khai vị. Lý Văn ghé qua ăn vụng, nghe thấy liền phán: “Các cô làm gì cũng vô ích thôi!” Đám nha hoàn không vui, mắng hắn chẳng biết quan tâm nhị công tử. Lý Văn nhảy dựng lên: “Ta không quan tâm? Toàn cậy vào ta cả đấy! Nha hoàn không thèm đếm xỉa, Lý Văn cuống quá, thốt ra: “Công tử là mắc bệnh tương tư! Các cô thì biết cái gì!”
Thật là một bí mật kinh thiên động địa!
Dương Ngọc lang mắc bệnh tương tư rồi.
Đám nha hoàn thi nhau chạy thục mạng, tranh nhau đem tin này báo cho Quản sự ma ma. Ma ma nọ lại rảo bước nhanh, truyền tin đến tai lão gia và phu nhân.
Triệu Mân và Dương Kiến Chương nghe xong, trước là kinh hãi, sau lại đại hỷ! Họ vạn lần không ngờ Dương Tri Hú đời này còn có cơ hội gắn liền với hai chữ tương tư, đến mức họ quên mất phía sau còn kèm theo chữ bệnh, vội vã gọi Lý Văn đến tra hỏi.
Lý Văn hết cách, ấp úng kể rằng công tử trước đó có cứu một cô nương, thế này thế nọ, dường như đã nảy sinh chút tình ý.
Mắt Triệu Mân trợn tròn như sói đói mấy năm chưa được ăn, lao xuống khỏi ghế, túm lấy Lý Văn hỏi: “Cô nương đó giờ ở phương nào?!”
Lý Văn đáp người đã đi rồi…
Triệu Mân và Dương Kiến Chương hận đến mức đấm ngực giậm chân. Dương Kiến Chương chỉ tay mắng Lý Văn: “Thấy ngươi ngày thường cũng lanh lợi, sao chuyện trọng đại thế này không biết báo lại một tiếng? Giờ thì hay rồi, đúng là trâu già đuổi thỏ, đuổi không kịp nữa rồi! Đồ nô tài ngu ngốc! Ngu ngốc!”
Lý Văn bị lão gia và phi nhân mắng cho khóc thầm mấy bận.
Hắn oan, hắn thật là quá oan ức, là công tử không cho nói mà!
Không nơi than vãn, đành ngậm đắng nuốt cay!
—
Từ ngày Đàn Hoa rời đi, Dương Tri Hú có hai nơi thường lui tới: một là hậu viện y quán, hai là bãi lau sậy ngoại thành.
Y quán thì còn đỡ, nằm ngay trong thành, lại có người hầu hạ; còn bãi lau sậy ngoại thành thì có phần hẻo lánh. Sau khi vào thu, Dương Tri Hú bắt đầu đợt dẫn độc mới. Lần này nhờ có cây Mê Lạc Đinh đã chiết cành thành công, chàng chỉ cần nằm giường ba ngày là có thể xuống đất đi lại. Việc đầu tiên chàng làm là ra bãi lau sậy ngoài thành.
Trời trở lạnh, cơ thể chàng vốn ốm yếu, lại ngồi ở vùng ngoại ô hoang vắng hơn một canh giờ, lúc về liền phát sốt cao.
Người nhà xót xa khôn xiết nhưng cũng chẳng làm gì được chàng. Sau đó, họ vội vàng tìm thợ đến tu sửa lại ngôi miếu đổ nát kia, quét bụi lợp ngói, gia cố cửa nẻo, lại sắm sửa thêm giường sập, lò sưởi, biến nơi đây thành chỗ nghỉ chân.
Một ngày nọ, Dương Tri Hú lại đến bãi lau sậy, thấy trong miếu có một vị hòa thượng trẻ dẫn theo tiểu sa di đang nghỉ ngơi, góc miếu chất đầy hành trang. Dương Tri Hú không nói nhiều, ngồi xuống một bên, tựa cửa nhìn ra ngoài.
Mùa thu phương nam không lạnh lẽo rét buốt như phương bắc, bãi lau sậy ngược lại có thêm vài phần ôn nhuận, xanh tươi. Những tán lau rộng lớn đã trổ bông, hoa lau mang sắc trắng nhạt xen lẫn tím lam, khẽ dập dềnh trong gió thu ẩm ướt, tựa như một lớp sương mỏng lãng đãng.
Vị hòa thượng trẻ nhắm mắt tụng kinh, tiểu sa di định lực chưa đủ, cứ lén nhìn Dương Tri Hú.
Quân tử đang lúc lâm bệnh, dẫu hình hài gầy yếu, chân mày vương nét mỏi mệt, nhưng khí chất đoan chính chẳng giảm phần nào.
“Tại hạ trông đẹp đẽ lắm sao?” Dương Tri Hú quay đầu, bắt gặp ánh mắt chằm chằm của tiểu sa di. Tiểu sa di chẳng hề né tránh, lanh lảnh đáp: “Thí chủ trông giống hệt như người trong tranh vậy!” Lời nói còn mang đậm âm hưởng vùng ngoài.
Dương Tri Hú khẽ cười một tiếng. Vị hòa thượng trẻ hắng giọng, vẻ mặt có chút ngượng ngùng, mở mắt chắp tay với Dương Tri Hú: “A di đà phật, mong thí chủ lượng thứ.”
Dương Tri Hú nhìn hành trang bên cạnh họ, hỏi: “Hai vị sư phụ từ đâu tới?”
Hòa thượng trẻ đáp: “Từ vùng Tây Bắc lánh nạn mà đến.”
Dương Tri Hú nghe vậy liền hỏi tiếp: “Tình hình bên đó ra sao rồi?”
Vị hòa thượng trẻ nói: “Binh mã Ô Đồ quấy nhiễu biên cảnh ngày một thường xuyên, mấy thôn xóm ngoài rìa người dân đã chạy sạch cả.”
Dương Tri Hú: “Người của triều đình thì sao?”
Hòa thượng trẻ đáp: “Chuyện này tiểu tăng cũng không rõ, nghe nói Uy Mạc đại tướng quân đang trên đường tới. Sư phụ nói phong ba sắp đến, người tự mình trấn thủ chùa viện, bảo chúng tăng mỗi người mang theo vài quyển cổ tịch quý giá đi lánh nạn khắp nơi, đợi thế sự yên ổn mới quay về.”
Dương Tri Hú hỏi: “Các vị có nơi nào để đi chưa?”
Hòa thượng trẻ đáp: “Vốn định đi nương nhờ họ hàng xa, nhưng rời quê hương đã lâu, tìm tới nơi thì người đã đi mất rồi, chúng tăng định đi bước nào hay bước nấy.”
Dương Tri Hú trầm tư giây lát rồi nói: “Các vị hãy đi về phía tây, tầm mười mấy dặm có ngôi chùa Kim Hoa. Ta sẽ viết một phong thư, các vị mang tới cho trụ trì, ngài ấy sẽ sắp xếp cho các vị.”
“A…” Hòa thượng trẻ nghe vậy vui mừng: “Đúng là gặp được quý nhân rồi!” Cùng tiểu sa di liên tục đa tạ.
Họ mang theo thư, đeo hành lý nặng trĩu lên đường.
Dương Tri Hú nhìn theo bóng lưng họ, nhíu mày lẩm bẩm: “… Đàn nương, nàng xem hai vị sư phụ này tuổi còn trẻ, dù trong cảnh lưu lạc vẫn gắng sức hộ vệ mạch văn, kiên trì với sơ tâm. Còn ta, chỉ vì tình cảnh biệt ly mà tâm hoá tro tàn ý nghĩ nguội lạnh, ngày ngày đắm chìm trong u sầu, nếu nàng biết được, hẳn cũng sẽ coi thường ta.”
Chàng lấy từ trong ngực áo ra con ngựa gỗ nhỏ đã v**t v* vô số lần, ngón tay gầy guộc lướt nhẹ qua thân ngựa, trầm tư hồi lâu, khẽ nói: “Đàn nương, bất luận tương lai giữa ta và nàng ra sao, ta cũng nên thu lại sầu tư, tĩnh tâm tự nhủ, thực chẳng nên vì chút mịt mờ nhất thời mà đánh mất bản phận làm người.”
—
Từ ngày đó, Dương Tri Hú ép mình trở lại quỹ đạo, khiến bản thân bận rộn hơn. Chỉ cần thân thể cho phép, mỗi ngày chàng đều ra ngoài chẩn bệnh, sau đó đến học đường giảng bài.
Một lần, chàng tới y quán, thấy mấy tên học đồ đang làm việc vặt, liền tùy tiện chọn một khuôn mặt lạ lẫm để khảo hạch.
Tên học đồ này trông thật thà chất phác, thấy Dương Tri Hú liền căng thẳng đến mức mồ hôi đầm đìa.
Dương Tri Hú ngồi trên ghế, tay bưng trà nóng, liếc nhìn mấy vị dược liệu trên bàn, thản nhiên hỏi: “Phụ tử tính gì? Hoàng liên tính gì?”
Học đồ đáp: “Hoàng… Hoàng liên… tính… tính Phụ tử…”
Dương Tri Hú khựng tay lại, tưởng mình nghe nhầm.
“Hay cho câu ‘Hoàng liên tính Phụ tử’.”
“Tiểu… tiểu nhân… không phải…”
“Ngươi không phải cái gì?” Dương Tri Hú cau mày nói: “Vấn đề đơn giản thế này, trẻ lên năm cũng phải biết, vậy mà ngươi lại run sợ, lắp bắp thế kia, còn dám đến y quán thị chẩn, chẳng phải là hại người hại mình sao?”
Tên học đồ cuống quýt đến mức mồ hôi vã ra như tắm, mặt cắt không còn giọt máu, nhất thời sơ sảy, mắt lộn lòng trắng, vậy mà lăn ra ngất xỉu.
Một lão y sư từ tiền đường bước tới, vừa vẫy tay vừa nói.
“Ấy, Ngọc lang! Ngọc lang! Đứa trẻ đó bị nói lắp! Cứ để nó dùng giấy bút viết cho con!”
“… Hả?”
Thân thể thì không có việc gì lớn, Dương Tri Hú hạ vài mũi kim, một lát sau đã tỉnh. Hai mắt vừa mở ra đã hét lớn một tiếng: “Tiên sinh! Tính hàn—!”
Dương Tri Hú đang ngồi bên cạnh uống nước, nghe vậy liền phun ra một ngụm trà, quay đầu nói với tên học đồ trên giường: “Sai rồi, tiên sinh họ Dương.”
Chuyện này không hiểu sao lại chạm đúng huyệt cười của chàng. Chàng ôm ngực cười đến không ngậm được miệng, cuối cùng gần như hụt hơi, tim đập loạn xạ. Lão y sư sợ hãi vội chạy tới: “Ôi chao ôi, Ngọc lang, chớ có động tâm ý, chớ có động tâm ý!”
Dương Tri Hú tựa vào ghế hồi lâu mới hoàn hồn, bất giác nhận ra, đây dường như là lần đầu tiên chàng cười trong suốt hai tháng qua kể từ khi Đàn Hoa rời đi.
Chàng ngước nhìn trần nhà, thầm nghĩ, hình như mình đã thích nghi được đôi chút rồi. Dẫu thi thoảng vẫn nhớ về nàng, như lúc vừa rồi khi cười đến không thở nổi, chàng luôn cảm thấy giây tiếp theo bàn tay Đàn Hoa sẽ đặt lên ngực mình.
Nhưng, cũng ổn cả thôi.
Dòng sông Hồng Giang chảy xuôi lững lờ, ngày đêm tĩnh lặng. Nước lạnh tràn qua cây cầu đá nơi chàng chẩn bệnh mỗi ngày, lá rụng phủ đầy con ngõ dài nơi chàng dạo bước thư tâm.
—
Ngày Lập đông, từ Thiên Kinh truyền đến tin Hoàng đế băng hà.
Thái tử bảy tuổi đăng cơ, phe cánh Hoàng hậu gây hấn, phái người ám sát Lương Vương nhưng thất bại, Lương Vương đã trốn thoát khỏi kinh thành. Cùng lúc đó, tiền tuyến Vương Trị đại bại, tổn hao binh tướng, mất đi trăm dặm đất đai.
Tin tức truyền đến Đại Thịnh, triều dã chấn động, phố xá xôn xao.
Nhất thời, cả Đại Thịnh bao trùm trong bóng mây u ám của chiến bại, ngõ phố đầy tiếng oán than, lời đồn thổi khắp nơi, lòng dân bất an.
Thành Cảnh Thuận cũng mất đi sự thanh tịnh an hòa vốn có. Lưu dân tản cư ngày một đông, các vụ án mạng, xung đột xảy ra liên miên. Giá cả trong thành leo thang, phố chợ rối ren, các hào môn đại hộ đóng chặt cổng cao, ai nấy tự bảo vệ mình.
Hơn một tháng sau, trong dân gian bắt đầu có lời đồn rằng Lương Vương đã dẫn người trấn giữ được Cứ Dương Quan.
Lời đồn như sách kể lại rằng: Lúc tiền tuyến tuyệt vọng nhất, vị Lương Vương từng bị gian thần hãm hại, suýt chút nữa diệt vong ấy đột nhiên xuất hiện nơi biên quan! Cựu bộ quân sĩ thấy chủ soái trở về, ai nấy đều rơi lệ, chấn hưng khí thế, liều chết chặn đứng đại quân của giặc!
Đây là tin vui hiếm hoi từ bấy lâu nay. Bá tánh truyền tai nhau thần kỳ đến mức coi Lương Vương như bậc cứu thế, thiên thần hạ phàm.
Dịp cuối năm, Dương Tri Hú nhận được thư của Lưu Thụy Nghĩa mới biết tình hình cụ thể. Cục diện tiền tuyến đã nát đến tột cùng, binh giáp thiếu hụt, lương thảo không thông, thương binh không thuốc, lều trại mỏng manh, đến cả áo chống rét cũng chẳng gom đủ, mỗi ngày trấn thủ đều khó tựa lên trời.
Cuối thư, Lưu Thụy Nghĩa viết thêm một tin, nói rằng đã gặp sư muội của mình: “Xích Tuyết cầm thanh trường kiếm quân tặng, chém giết quá nhiều, đến mức lưỡi mẻ mũi gãy, chẳng còn dáng vẻ xưa kia. Muội ấy nhờ ta nhắn lại rằng, ngày sau nếu có cơ hội, nhất định sẽ đeo kiếm đến trước mặt quân, thỉnh tội tạ lỗi.”
Dương Tri Hú ngồi bên bàn, dưới ánh đèn dầu, đăm đăm nhìn đoạn cuối này, nhìn mãi đến mức con chữ cũng trở nên xa lạ.
Lưỡi mẻ mũi gãy, chẳng còn dáng vẻ xưa… Chàng cau mày nghĩ thầm, Nhuận Ky tuy không nổi danh nhưng cũng là cốt thép ròng, lưỡi kiếm làm từ thép tinh, binh khí rèn luyện qua ngàn đời, dân gian hiếm thấy. Phải đối đầu với bao nhiêu binh khí mới có thể khiến thanh kiếm đó gãy đoạn?
Nghĩ đoạn, tâm trí lại chuyển hướng.
“Xích Tuyết…”
Nói rằng có cơ hội sẽ báo tin cho chàng, kết quả thì sao? Đi biền biệt mấy tháng trời, cái tin duy nhất này lại là do Lưu Thụy Nghĩa truyền tới.
Dương Tri Hú nhìn hai chữ trên thư, lông mày khẽ nhếch, vậy mà lại cất lời đối thoại với mặt giấy.
“Tả thống lĩnh đại nhân, nàng hãy đặt tay xuống dưới cổ khoảng một gang, rồi hơi lệch sang bên trái một chút, nàng gõ thử xem, bên trong có phải đang trống rỗng hay không?”
Tả thống lĩnh không đáp.
Dương Tri Hú thở dài rồi đọc lại nội dung phía trước một lần nữa.
Thành cô độc tuyệt vọng, sinh tử khó đoán, sự thảm liệt trong đó dường như có thể xuyên thấu trang giấy.
Mấy ngày sau, Dương Tri Hú đi xem xét cây Mê Lạc Đinh. Dương phủ đã tập hợp toàn bộ cao thủ giỏi nhất của Xuân Hạnh Đường để chăm sóc loài linh dược sa mạc quý giá này. Lúc Đàn Hoa vừa đi, Dương Tri Hú đã lệnh cho họ nỗ lực chiết cành, sau đó luyện độc chờ dùng. Nay nửa năm trôi qua, đã có chút thu hoạch.
Dương Tri Hú hỏi có thể chiết thêm tối đa bao nhiêu gốc.
“Nhị công tử, không thể chiết thêm được nữa. Độc tố càng chia càng loãng, thêm nữa sẽ vô dụng, phải tìm cách dẫn cây mới về thôi.”
Y sư nuôi thuốc cũng rất sầu não, ai cũng biết, giờ đây đến quan ngoại còn chẳng ra nổi, nói gì đến chuyện sang Ô Đồ lấy cây mới.
Dương Tri Hú nói: “Chỉ gốc này thôi, cố gắng lấy độc, trước mùa xuân ta sẽ rời Cảnh Thuận.”
Y sư nói: “Chừng này độc tố đủ dùng trong nửa năm, nhị công tử phải trở về trước lúc đó, chúng ta còn phải tìm cách tìm dược thảo mới.”
Dương Tri Hú khẽ cười, nói: “Sao vậy? Ta là một con cá không thể rời khỏi nước sao? Đời này chỉ có thể bấm giờ mà sống thôi à?”
“Chuyện này…” Y sư hỏi: “Nhị công tử định đi bao lâu?”
Dương Tri Hú nhướng mày: “Đi bao lâu?”
Chàng ngước mắt nhìn trời, chân trời bao la, mây mù giăng lối.
“Đi đến khi xuân ấm hoa nở, bốn phương bình an; đi đến khi khói lửa tan sạch, sơn hà thái bình.” Chàng cười, lại nhìn về phía y sư: “Nếu đi không đến ngày đó, ta sẽ không trở về.”