🪷 Chương 29: Không phải phu quân, là tiểu thúc
🪷 Editor: Thảo Anh
Ngày hôm ấy mưa rơi tầm tã, Tô Ngọc Dung đã mấy ngày liền chẳng bước chân ra khỏi cửa. Nàng ngồi tựa má dưới hiên, nhìn làn mưa giăng mắc không dứt ngoài hành lang mà chân mày ủ dột.
Nàng sợ nhất hạng thời tiết mưa tuyết thế này. Hồi còn ở quê, những trận mưa tuyết kéo dài chính là thứ đoạt mạng người; hoa màu ngoài đồng hễ đông chết, cuối năm không thu được lương thực, thì đừng nói là chống chọi với mùa đông khắc nghiệt, chỉ riêng sưu thuế của quan phủ thôi cũng đủ ép chết người ta rồi.
Năm nay Nhạn Bắc có lạnh lắm không nhỉ?
Tô Ngọc Dung thỉnh thoảng lại nhớ nhà, nhớ sạp hàng của mình, nhớ những vị khách quen vẫn hay ghé chỗ nàng mua thịt. Nàng đi rồi, họ biết tìm đến đâu?
Vì những biến cố không vui thuở nhỏ, tính cách Tô Ngọc Dung trở nên lầm lì, ít nói. Những quá khứ đau thương ấy tựa như những vết chém hằn lên thân thể, dù sau này đã kết vảy lành miệng nhưng vẫn để lại những vết sẹo không cách nào xóa nhòa, cứ đến đêm lại ngứa ngáy tâm can. Nàng cũng muốn mình trở nên dũng cảm, sắc sảo hơn một chút, nhưng nàng không làm được. Nàng nhát gan, lại ít hiểu biết, chỉ biết trông chừng mảnh vườn nhỏ của mình. Trước khi gả cho Lận Đàn, Tô Ngọc Dung chưa từng đi đâu xa, nơi xa nhất nàng từng tới cũng chỉ là trấn bên cạnh để dắt lợn về.
Thế giới bên ngoài mới lạ, cuốn hút nhưng cũng đầy rẫy hiểm nguy, song chỉ cần ở bên Lận Đàn, nàng sẽ không thấy sợ hãi nữa.
Mưa rơi ròng rã cả ngày, đến tận trưa mới ngớt. Tô Ngọc Dung quẩy giỏ ra ngoài mua thức ăn. Dạo gần đây Lận Đàn đi sớm về khuya, bận rộn đến mức chân không chạm đất. Có đôi khi nửa đêm nàng tỉnh giấc dậy uống nước, vẫn thấy chàng ngồi bên bàn viết công văn.
Vì sợ ánh đèn dầu quá sáng ảnh hưởng đến giấc ngủ của nàng, chàng luôn ngồi ở gian ngoài, thắp một ngọn nến, thức đến đỏ cả mắt.
Tô Ngọc Dung nhìn mà xót xa, khuyên chàng nghỉ ngơi sớm. Lận Đàn đều cười dịu dàng bảo được, rồi buông bút theo nàng lên giường. Nhưng nàng biết rõ, mỗi lần nàng vừa thiếp đi, Lận Đàn lại rón rén ngồi dậy.
Đống công vụ kia dường như chẳng bao giờ làm cho hết. Việc gì Lận Đàn cũng ôm vào mình, từ sửa sang thành quách đến phòng chống lũ lụt ở ngoại thành trước đó đều có phần của chàng.
Tô Ngọc Dung không tiện nói nhiều, chỉ lẳng lặng nấu những món ngon đợi chàng tan làm về dùng bữa.
Nay trong kinh canh phòng cẩn mật, lúc mua thức ăn nàng nghe người ta kháo nhau rằng sắp đến kỳ thu thí, học tử khắp nơi đổ về kinh thành đông đúc. Cống viện sắp sửa đóng cửa niêm phong, có quân vệ canh giữ, người không phận sự miễn lại gần.
Nàng vội vã đi ngang qua, thấy đám binh lính tay cầm binh khí, giáp sắt sáng choang thì sợ hãi cúi đầu đi đường vòng.
Mua xong thức ăn, Tô Ngọc Dung liền trở về. Trong nhà đã có thêm mấy người hầu chăm lo cơm nước, nhưng nàng vốn không quen được kẻ hầu người hạ, việc gì làm được nàng đều tự tay làm lấy.
Nàng rửa sạch rau củ. Hôm nay ngoài bến tàu có cam quýt tươi từ Lĩnh Nam mới chở tới, nàng mua hẳn một sọt, lại sang chỗ ông cụ đầu cầu xách mười con cua, nghe bảo là cua bắt từ Thái Hồ.
Nàng tách lấy gạch và thịt cua, trộn chung với nước cam, củ năng băm nhỏ và rượu thì là cho đều, rồi nhồi ngược vào vỏ cam đã khoét rỗng, đặt lên nồi hấp lửa lớn. Chẳng mấy chốc, một mùi hương cam thanh tao dịu nhẹ quyện lẫn với vị ngọt lịm của cua tỏa ra ngào ngạt.
Nàng nếm thử một miếng, thịt cua béo mà không ngấy, hương thơm nồng nàn. Chỉ tiếc là cua chưa vào mùa, nếu đợi thêm nửa tháng nữa, qua Tết Trung thu mới là lúc ngon nhất.
Tô Ngọc Dung ăn xong hai quả, lại dùng hộp gỗ đựng một ít, nhờ người hầu mang sang Hạ gia. Mấy ngày nay Hạ Dao Đình về nhà ngoại thăm cha mẹ, đệ đệ nàng ấy sắp vào kỳ thi, nàng ấy lo đến mức mọc cả mụn nước quanh miệng, ăn uống không trôi. Món cua chưng cam này vừa hay có tác dụng thanh nhiệt.
Trên lò, món canh vịt hầm sơn dược đang liu riu tỏa khói, đó là món nấu riêng cho Lận Đàn. Không còn việc gì khác, Tô Ngọc Dung dọn bàn ra hành lang, ngồi trước gian bếp luyện chữ.
Nàng bắt đầu học chữ quá muộn. Trước năm mười lăm tuổi, nàng chỉ biết viết đúng tên mình, mà thực ra cũng chẳng hẳn là biết viết, nàng chỉ nhìn thoáng qua tên mình trong sổ bộ lúc quan phủ đến đăng ký hộ khẩu rồi ghi nhớ đại khái vậy thôi.
Cha mẹ nói với nha dịch rằng nàng là con gái họ, là báu vật nhặt được khi tuyết tan, là ngọc quý, nên mới đặt tên là Tô Ngọc Dung.
Hồi trông coi tiệm thịt, hạt đậu xanh đại diện cho mười văn tiền, đậu đỏ là một trăm văn, còn đậu đen là nợ lại. Sáng sớm nào mở cửa tiệm, nàng cũng bày mấy cái hũ lên bàn, bỏ những hạt đậu màu sắc khác nhau vào đó. Cuối ngày về đếm đậu là biết hôm đó lời lỗ bao nhiêu.
Sau này Lận Đàn bắt đầu dạy nàng nhận mặt chữ và tính toán. Dẫu nàng vô cùng chăm chỉ nhưng nét chữ vẫn nguệch ngoạc như trẻ lên ba. Phải vất vả lắm nàng mới sửa được tư thế cầm bút kỳ quặc trước đây. Lận Đàn sợ nàng buồn chán nên trước khi ra ngoài đã viết sẵn nhiều mẫu chữ cho nàng đồ lại.
Tô Ngọc Dung cầm bút, nắn nót theo từng nét chữ của phu quân. Nàng tập trung cao độ, viết hết ba trang giấy thì canh vịt cũng vừa chín tới.
Nàng cất bút mực, rửa tay chuẩn bị dùng cơm.
“Phu nhân, có cần múc ra cho nguội bớt không ạ?” Một người hầu đứng bên cạnh hỏi.
“Không cần đâu.” Tô Ngọc Dung lắc đầu, “Đợi phu quân về rồi hẵng múc.”
“Dạ.”
Nàng nhẩm tính thời gian, ngồi ở gian chính đợi. Thế nhưng, thường tầm này Lận Đàn đã xuất hiện đầu ngõ, vậy mà hôm nay trời đã tối mịt vẫn chẳng thấy bóng dáng chàng đâu. Tô Ngọc Dung bắt đầu lo lắng, đang định sai người đi hỏi thăm thì đột nhiên có một người đàn ông tìm đến tận cửa, hỏi: “Đây có phải là phủ của Lận nhị thiếu phu nhân?”
Tô Ngọc Dung đứng dậy: “Phải…”
“Tiểu nhân là thư lại bên nha thự Bộ Công. Trong bộ có công vụ khẩn cấp cần xử lý, Lận đại nhân e rằng về muộn khiến phu nhân lo lắng, nên đặc biệt sai tiểu nhân tới báo một tiếng. Đại nhân đêm nay trực tại nha môn, xin phu nhân cứ nghỉ ngơi trước, đừng đợi.”
Viên thư lại lời lẽ cung kính, bên hông còn đeo thẻ bài của Bộ Công.
Tô Ngọc Dung vội gật đầu: “Hóa ra là vậy, làm phiền đại nhân phải chạy một chuyến rồi.”
“Phu nhân khách sáo quá.” Người nọ mỉm cười, “Lời đã chuyển tới, tiểu nhân xin cáo lui về phục mệnh.”
“Đại nhân đi thong thả.”
Tô Ngọc Dung cúi mình hành lễ, tiễn người đó rời đi.
Hóa ra Lận Đàn hôm nay không về, nồi canh vịt trên bếp chẳng phải là uổng công rồi sao, để đến mai sẽ mất hết vị tươi.
Nàng thở dài một tiếng, quay vào phòng tự múc ăn một bát, rồi chia cho đám người hầu mấy bát còn lại.
Đêm ấy mưa lại rơi, tiếng gõ lộp bộp vào cửa sổ khiến Tô Ngọc Dung trằn trọc, sáng hôm sau đã dậy từ sớm. Mưa dầm dề không dứt, y phục phơi không khô, bám đầy hơi ẩm, ngửi thấy cả mùi mốc thoang thoảng.
Mãi đến trưa ngày hôm sau, Lận Đàn mới vội vã trở về.
Tô Ngọc Dung đang thiu thiu ngủ trưa, nghe tiếng động liền mở mắt: “Phu quân?”
Lận Đàn lộ vẻ hối lỗi: “Làm nàng thức giấc rồi sao?”
Tô Ngọc Dung lắc đầu, khoác áo đứng dậy: “Chàng bận xong việc rồi à?”
“Vẫn chưa.”
Bên ngoài trời vẫn mưa, quần áo giặt không khô được nên Tô Ngọc Dung dựng giá trong phòng, đốt chậu than để hơ.
Lận Đàn gạt mấy lớp áo sang một bên, mắt chàng vằn tia máu, trông có vẻ tiều tụy. Chàng ngồi xuống cạnh giường, bảo: “Phía Nam mưa liên tục cả tháng trời, mực nước sông dâng cao. Hôm qua có tin báo về kinh, nói là ba nghìn mẫu ruộng lúa đã bị nhấn chìm.”
Gương mặt Tô Ngọc Dung lộ vẻ đau xót, ba nghìn mẫu, biết bao nhiêu là hoa màu.
Lận Đàn đưa tay v**t v* má nàng, dịu giọng: “Ta đã xin chỉ thị của bệ hạ, ngày mai sẽ lên đường vào vùng lũ trị thủy, có lẽ phải đi mất hai tháng.”
Tim Tô Ngọc Dung thắt lại, vội hỏi ngay: “Thiếp có thể đi cùng chàng không?”
“Không được.” Lận Đàn lắc đầu, vẻ mặt nghiêm nghị, “Nguy hiểm lắm, đường thủy đường bộ đều gian nan vô cùng, lại phải đi gấp ngày đêm. Vùng lũ thường dễ phát sinh dịch bệnh, ta không thể để nàng theo vào chỗ hiểm nguy được. Nàng cứ ở lại kinh thành.”
“Nhưng… chàng đi được, sao thiếp lại không đi được?”
Mắt nàng đã rưng rưng lệ, tràn đầy vẻ luyến lưu và lo lắng, bàn tay níu chặt lấy tay áo Lận Đàn.
“Dung Dung.”
Lận Đàn thở dài, dùng ngón cái lau nước mắt nơi khóe mắt nàng: “Chuyện thế này, luôn phải có người đứng ra gánh vác. Năm kia khi tuyết tan ở Nhạn Bắc, ta đã tận mắt chứng kiến cảnh lũ quét tàn khốc, về việc trị thủy phòng tai ít nhiều cũng có kinh nghiệm, lúc này chính là lúc cần ta nhất.”
Chàng khựng lại một chút, bọc lấy bàn tay hơi lạnh của nàng trong lòng bàn tay mình, ân cần dặn dò: “Trước khi rời kinh, ta đã bái phỏng mấy vị đồng liêu thân thiết và ân sư, họ đều đã hứa sẽ để mắt trông nom nàng. Nàng yên tâm, sẽ không có ai dám thừa cơ ta vắng nhà mà gây khó dễ cho nàng đâu. Người hầu trong nhà đều là người đứng đắn, Ngũ đệ muội cũng ở trong thành, nếu buồn nàng cứ tìm muội ấy trò chuyện, cùng đi dạo phố phường. Nếu thiếu tiền tiêu, nàng cứ đến tiệm tiền Giếng Nguyên đọc tên ta, ta đã dặn dò chưởng quầy ở đó rồi.”
Sống mũi Tô Ngọc Dung cay xè: “Phu quân…”
Nhìn dáng vẻ chực khóc của nàng, Lận Đàn không đành lòng, chàng hạ thấp giọng, thanh âm vô cùng ôn nhu: “Chịu đựng gian khổ, nhẫn nhịn thêm một thời gian nữa thôi. Ta nhất định sẽ xử lý ổn thỏa việc phương Nam. Chờ ta về, chúng ta sẽ tìm một đại viện vừa ý rồi dọn ra ngoài, không cần phải nhìn sắc mặt kẻ khác mà sống nữa. Tin ta, được không?”
Chàng cũng chẳng muốn xa rời Tô Ngọc Dung, nhưng có những việc chung quy vẫn phải có người làm, không thể vì là việc khổ sai mà ai nấy đều né tránh. Chậm trễ một ngày là bách tính lại lầm than thêm một ngày.
Tô Ngọc Dung biết chàng sẽ không vì ham sống sợ chết hay vì tình riêng mà ngó lơ thiên tai. Nàng không nhất quyết giữ chàng lại, chỉ là nàng lo cho chàng, không nỡ xa chàng. Chàng đã vất vả mấy ngày liền chưa kịp nghỉ ngơi, giờ lại phải dấn thân vào dặm trường vất vả.
Dẫu muôn vàn luyến lưu cũng biết không thể ích kỷ mà níu chân chàng. Tô Ngọc Dung nén lại nỗi chua xót trong lòng, đôi mắt đỏ hoe, khẽ gật đầu: “Thiếp tin chàng, những gì chàng hứa với thiếp từ trước đến nay đều làm được. Phu quân… Hi Yến, chàng nhất định phải vạn sự cẩn trọng, bình an trở về.”
Thấy nàng đồng ý, Lận Đàn mới yên tâm phần nào, nặng nề gật đầu.
Việc quân khẩn cấp, Lận Đàn không ngồi được bao lâu đã đứng dậy thu dọn hành trang. Tô Ngọc Dung cũng khoác áo xuống giường, đem theo một ít thuốc trị thương thường dùng gói lại, rồi vội vàng xuống bếp tráng mười mấy cái bánh bột, gói kỹ nhét vào rương của Lận Đàn, dặn dò: “Đây đều là đồ ăn để được lâu, đường xá Nam hạ gian nan, chuyện ăn uống e là khó khăn, chàng mang theo cái này sẽ không bị đói.”
“Được.”
Lận Đàn thu xếp đồ đạc xong xuôi, bên cạnh còn có hai viên thư lại và binh lính. Họ giúp khuân đồ lên xe ngựa. Tô Ngọc Dung đứng trước cổng viện, che ô, ngước mắt nhìn Lận Đàn.
Ngàn lời muốn nói đều đọng lại trong ánh mắt, chẳng thốt nên lời.
“Ta đi đây.”
Lận Đàn nắm lấy tay Tô Ngọc Dung, ngón tay nhẹ nhàng m*n tr*n lòng bàn tay vợ, ánh mắt quyến luyến không rời.
Tô Ngọc Dung sụt sịt, cố để nước mắt không rơi xuống. Nàng định nói lời từ biệt, nhưng cứ hễ mở miệng là lại muốn khóc. Nàng không thích bản thân mình thế này, quá yếu đuối, chẳng tài nào kìm được nước mắt.
“Đừng khóc, đừng khóc mà.”
Lận Đàn khẽ thở dài, tiến tới một bước, nâng lấy khuôn mặt nàng: “Biết thế này, ta đã nhân lúc nàng ngủ say mà lẻn đi cho rồi.”
Cứ nhìn thấy nước mắt của nàng là chàng lại chẳng thể nhấc nổi bước chân.
Tô Ngọc Dung lắc đầu: “Không được, thiếp phải tiễn chàng, nói với chàng mấy câu. Nếu chàng thật sự bỏ đi lặng lẽ, thiếp mà biết được sẽ buồn lắm.”
Lận Đàn lau nước mắt cho nàng: “Thế nên ta mới đang đàng hoàng từ biệt nàng đây. Đừng khóc nữa, vào nhà đi kẻo lát nữa mưa lại to hơn. Khi bông tuyết đầu mùa rơi, ta sẽ trở về.”
“Vâng…”
Tô Ngọc Dung nắm chặt cán ô: “Thiếp đợi chàng đi khuất rồi mới vào.”
“Vậy ta đi đây.” Lận Đàn mỉm cười, “Không đi nhanh, bọn họ lại cười ta cho xem.”
Chàng còn có đồng liêu đi cùng, ngoài ngõ còn có binh lính và thuộc hạ đang chờ.
Tô Ngọc Dung đỏ mặt, sợ mình cứ khóc lóc lôi kéo sẽ khiến Lận Đàn bị người ta chê cười, bèn lau khô nước mắt, buông bàn tay đang nắm lấy chàng ra.
Lận Đàn nhìn nàng một cái rồi quay người bước đi. Mưa phùn giăng lối tựa như sương mù, chàng đi đến đầu ngõ thì ngoảnh lại, thấy nàng vẫn đứng đó liền giơ tay vẫy vẫy. Dù chàng không nói ra, Tô Ngọc Dung cũng biết chàng muốn bảo gì.
“Vào nhà đi.”
Nàng không cử động, cứ thế nhìn bóng dáng phu quân dần hòa vào màn mưa mờ ảo. Tô Ngọc Dung đứng nguyên tại chỗ, kiễng chân ngóng trông, mưa bụi làm ướt sũng gấu váy, mang theo hơi lạnh mơn man, mãi đến khi không còn thấy bóng người đâu nữa, nàng mới lầm lũi quay vào nhà.
Sau khi Lận Đàn đi, đám người hầu phủ họ Lận thường xuyên lảng vảng quanh đây rốt cuộc cũng chịu giải tán. Suy cho cùng, thứ bậc bề trên muốn cứu vãn là Lận Đàn chứ chẳng phải Tô Ngọc Dung.
Nàng vẫn duy trì nếp sinh hoạt cũ, sáng nào không mưa thì xách giỏ đi mua thức ăn, làm được món gì ngon lại chia cho hàng xóm láng giềng một ít. Lâu dần, mọi người xung quanh đều đã quen mặt Tô Ngọc Dung, không còn e dè nàng như hồi đầu nữa. Thỉnh thoảng nhà ai có rang ít lạc hay đậu, cũng hay mang sang biếu nàng một ít.
Ai nấy đều biết, người vợ của vị quan lớn nhà bên cạnh là một cô nương còn rất trẻ, tính tình nhút nhát, hay thẹn thùng, ít lời nhưng rất dễ gần, tính khí lại tốt.
Vào thu, hiếm hoi lắm mới có một ngày nắng ráo. Tô Ngọc Dung bảo người hầu đem hết quần áo mùa hè ra giặt sạch, treo đầy sân phơi nắng gắt, sau đó mới cất vào tủ cho khỏi mốc.
Sẵn dịp trời quang mây tạnh, Tô Ngọc Dung nấu một bát mì. Sợ mì bị nhừ nên nàng để riêng nước dùng và mì vào hai bát khác nhau. Ra cổng thành gọi một chiếc xe bò, trả tiền xong nàng ngồi lên đống rơm rạ, cẩn thận ôm hộp thức ăn vào lòng để tránh xóc nảy làm đổ nước dùng.
“Cô nương muốn đi đâu thế?” Lão đánh xe bò cười hỏi.
Tô Ngọc Dung đáp: “Cháu đến thư viện Bạch Lộc.”
“Thư viện Bạch Lộc ở đâu nhỉ?” Lão nông chỉ quen làm ruộng, không biết mấy chỗ đèn sách.
Tô Ngọc Dung liền chỉ đường: “Từ Tĩnh Thiện Quán đi về phía Tây mười dặm là tới ạ.”
Tĩnh Thiện Quán rất nổi tiếng, thường có người từ phương xa lặn lội đến kinh kỳ để chiêm bái.
“Được rồi, ngồi cho vững nhé.”
“Vâng ạ.”
Sau cơn mưa trời lại sáng, rực rỡ nắng vàng, chân trời hiện lên một dải mây ngũ sắc. Tô Ngọc Dung ngước mắt ngắm nhìn, xe bò lắc lư có chút xóc nảy nhưng nàng thấy lòng bình yên lạ thường.
Ngày xưa ở quê, mỗi khi đến phiên chợ trấn, Tô Ngọc Dung lại theo cha mẹ đi chơi chợ. Lần nào nàng cũng đòi mua kẹo xốp cho bằng được. Lúc về lại ngồi nhờ xe bò của người cùng làng, nàng tựa vào đống rơm, vừa ngắm trời vừa nghêu ngao hát. Cha cùng bác đánh xe hàn huyên đủ chuyện, mẹ ngồi bên cạnh giơ tay che nắng cho nàng. Tô Ngọc Dung hát mệt rồi nhắm mắt lại, ngủ thiếp đi lúc nào không hay, khi tỉnh dậy đã thấy mình ở cửa nhà.
Nghĩ về chuyện cũ, lòng nàng ấm áp nhưng cũng đượm chút u sầu, nàng nhớ cha mẹ quá.
“Này cô nương.” Lão đánh xe bò đột ngột cười hỏi, “Cái thư viện Bạch Lộc gì đó, có phải là chỗ để đi học không?”
“Vâng ạ.”
“Ồ.” Lão lại hỏi tiếp, “Chắc là đi đưa đồ cho phu quân đấy hả?”
Lão nghe nói mấy người học trong đó đang chuẩn bị thi cử, đi lại không tiện, thỉnh thoảng người nhà vẫn hay đến đưa quần áo, đồ ăn.
Cô nương ngồi trên xe bò búi tóc kiểu phụ nữ đã có chồng, đoán chừng là đi đưa cơm cho phu quân đang dùi mài kinh sử.
Tô Ngọc Dung ngẩn người một lát, vội vàng giải thích: “Không phải, không phải đâu ạ.”
Nàng ngồi thẳng dậy, mặt đỏ bừng vì bị hiểu lầm, thưa: “Cháu đi đưa đồ cho tiểu thúc ạ. Đệ ấy học ở thư viện Bạch Lộc, phu quân cháu mấy hôm trước đi công tác vắng nhà nên cháu đến đưa ít đồ cho đệ ấy.”
Thấy mình đoán sai, lão nông ngượng ngùng cười: “Hóa ra là em chồng, ta cứ tưởng là đi gặp nhà mình cơ đấy.”
Tô Ngọc Dung nhỏ giọng: “Không phải đâu ạ.”
Trong thư viện Bạch Lộc, ngày thi cử càng lúc càng gần, không khí dường như cũng đông đặc lại, trên mặt ai nấy đều hiện rõ vẻ trang nghiêm, lo lắng.
Lận Chiêm ngồi ở góc phòng, đầu ngón tay vì cầm bút quá lâu mà hơi trắng bệch. Giữa đôi mày thiếu niên vương vấn vẻ mệt mỏi và lạnh lùng không dứt, áp lực quanh người càng lúc càng nặng nề, tựa như một cánh cung đã kéo căng tới hạn, dây cung sắp đứt đến nơi.
Đúng lúc này, một người bạn học tiến lại gần: “Lận Chiêm, ngoài thư viện có người tìm cậu đấy.”
Lận Chiêm ngẩng đầu, hỏi một câu bâng quơ: “Là ai?”
“Là một nữ nhân.”
Người bạn đó cũng vừa từ cổng vào, người nhà vừa đến đưa đồ cho hắn. Bên cạnh có một cô gái đứng đó, đắn đo mãi mới tiến lên hỏi bằng giọng trong trẻo: “Làm phiền huynh… huynh có biết Lận Chiêm không? Có thể gọi cậu ấy ra một lát được không?”
Bản thân hắn ta vốn chẳng muốn dây dưa gì với Lận Chiêm, cái người này tính tình cổ quái, lại có chút tà khí, nhưng cô nương kia gương mặt thanh tú, nụ cười ôn hòa khiến hắn ta không nỡ chối từ.
Bàn tay đang cầm bút của Lận Chiêm khựng lại trong tích tắc.
Nữ nhân?
Trong lòng hắn nhen nhóm một tia mong đợi thầm kín mà nóng rực.
Gương mặt Lận Chiêm vẫn không lộ chút biểu cảm, chỉ nhàn nhạt ừ một tiếng: “Biết rồi, đa tạ.”
Người bạn học ôm đồ đạc ra đi.
Lận Chiêm buông bút đứng dậy, thở ra một hơi dài.
Hắn bước ra khỏi phòng, ban đầu bước chân còn vững vàng, mang theo vẻ xa cách lạnh lùng như mọi khi. Thế nhưng càng đến gần cổng thư viện, nhịp chân hắn càng nhanh dần, vạt áo tung bay trong gió dưới ánh nắng thu hanh vàng, hòa cùng nhịp tim mỗi lúc một dồn dập.
Đốm lửa nhỏ nhoi nơi đáy lòng như gặp gió, không kiểm soát được mà lan rộng ra như lửa gặp rơm khô, càng cháy càng mãnh liệt, đốt đến mức lồng ngực hắn nóng hổi.
Tô Ngọc Dung đang đứng dưới bậc đá, vận một bộ nhu quần màu mơ chín hơi cũ, dải thắt lưng buộc chặt càng tôn lên vòng eo thon thả, tóc mây búi nhẹ, không tô son điểm phấn nhưng vẫn đầy vẻ duyên dáng, dịu dàng.
Lận Chiêm khựng bước, rồi chậm lại, từng bước một bước xuống những bậc đá cuối cùng.
“Tẩu tẩu.” Hắn khẽ gọi.
Tô Ngọc Dung đang mải nhìn tấm bia đá trước cổng thư viện, cố gắng nhận mặt những chữ trên đó, nghe tiếng liền ngoảnh lại, rạng rỡ lên tiếng: “Tiểu thúc!”
“Vâng.” Lận Chiêm vẻ mặt bình thản tiến tới, “Sao tẩu lại đến đây?”
Tô Ngọc Dung đưa bọc đồ trên vai cho hắn: “Đây, trời sắp lạnh rồi, ta làm cho đệ mấy đôi giày tất, với một cái áo lót dày.”
Lận Chiêm đón lấy: “Vất vả cho tẩu rồi.”
“Còn cái này nữa.” Tô Ngọc Dung ôm hộp thức ăn, “Ta nấu cho đệ bát mì. Hộp này có hai tầng, tầng dưới ta có để than nên mì vẫn còn nóng. Ta làm hai loại đồ ăn kèm, một loại là thịt băm dưa muối, một loại là nấm mộc nhĩ chay, không biết đệ thích loại nào.”
Lận Chiêm ngẩn ngơ: “Mì?”
“Đúng vậy!” Tô Ngọc Dung mỉm cười tinh nghịch, “Hôm nay là mùng mười tháng Tám mà. Tiểu thúc, đệ là thọ tinh, ngày sinh thần phải ăn mì trường thọ chứ. Sáng nay lúc nấu ta đã rất cẩn thận không để nó đứt đâu, lúc đệ ăn cũng phải ăn một hơi hết cả sợi, như thế mới được trường thọ khỏe mạnh, phúc trạch dài lâu!”
Ở quê nàng đều làm vậy, mừng sinh nhật là phải ăn mì, ăn hết một sợi liền mạch thì mới có thể sống thọ như Bành Tổ.
Trái tim Lận Chiêm chấn động dữ dội, dường như bị một thứ gì đó va mạnh vào, ngón tay siết chặt lấy hộp thức ăn đến mức khớp xương trắng bệch.
Hai chữ “sinh thần” đối với hắn vừa xa lạ vừa xa xỉ. Chính hắn cũng chẳng còn nhớ ngày này. Ở Lận gia, hắn là kẻ “thiên sát cô tinh” không nên tồn tại, khắc chết cha mẹ, duyên phận bạc bẽo. Đừng nói là chúc tụng, đám người được gọi là máu mủ kia e là sau lưng đều mong hắn biến mất không tăm tích từ lâu rồi.
Hắn từng thấy cảnh anh chị em khác trong phủ đón sinh nhật náo nhiệt thế nào, quà cáp chất đống, tiếng cười nói rộn vang, tràn ngập những lời chúc tụng của cha mẹ người thân.
Cuộc đời hắn u tối, không một tia sáng, như đám rêu mốc trong góc khuất cứ thế lầm lũi mà lớn lên.
Thế rồi một ngày kia, có một người ngơ ngác bước vào khu vườn hoang vắng tiêu điều ấy. Nàng vụng về, ngốc nghếch mà ngây thơ, đẩy cánh cửa ra và hỏi xem có ai ở nhà không.
Một luồng cảm xúc nóng bỏng, lạ lẫm không kìm nén được từ những kẽ hở đầy rêu xanh ấy phun trào ra, tức thì càn quét khắp xương cốt của hắn. Hắn vừa muốn kháng cự, lại vừa khao khát muốn nắm lấy.
“Mau ăn đi.” Tô Ngọc Dung mỉm cười giục giã, “Không là mì nhừ mất đấy.”
Lận Chiêm cúi đầu nhìn bát mì trong hộp. Những sợi mì đều đặn, dai mềm không đứt, làn khói nóng hổi mang theo hương thơm xông lên làm mờ nhòe tầm mắt hắn.
Hắn gần như có thể tưởng tượng được cảnh tẩu tẩu sáng sớm bên bếp lửa đã cẩn thận canh chừng bát mì này thế nào vì sợ làm đứt sợi, rồi vất vả ôm nó đi quãng đường dài đến trước cổng thư viện ra sao.
Cổ họng hắn chuyển động khó khăn, cố đè nén nỗi chua xót và rung động đang dâng trào, giọng nói càng thêm trầm khàn: “…Làm phiền tẩu tẩu phải phí tâm rồi.”
Lận Chiêm dẫn nàng ngồi xuống ven đường. Hắn cúi đầu không nói lời nào, ăn sạch bách cả hai phần đồ kèm.
Ngàn vạn lời nói nghẹn lại nơi đầu môi, Lận Chiêm không dám ngẩng đầu, chỉ cắm cúi ăn, sợ rằng trong đáy mắt sẽ rò rỉ quá nhiều thứ tình cảm mà chính hắn cũng không thể hiểu nổi, không thể kiểm soát nổi.
Tô Ngọc Dung ngồi bên cạnh, tươi cười nhìn hắn. Đợi Lận Chiêm ăn xong, nàng không nhịn được hỏi: “Có ngon không?”
“Vâng, ngon lắm.” Lận Chiêm khẽ đáp, “Tay nghề của tẩu tẩu thật tốt.”
Tô Ngọc Dung thẹn thùng cúi mặt: “Ngon là tốt rồi. Đệ đưa bát đũa đây cho ta rồi mau vào đi kẻo lỡ việc học, ta cũng phải tranh thủ về thành trước khi trời tối.”
Nói xong nàng thu dọn hộp thức ăn. Lúc đứng dậy, cổ tay đột ngột bị một bàn tay nắm chặt lấy. Lực nắm không quá mạnh nhưng lại mang theo một sự kiên quyết không thể vùng vẫy, nhiệt độ nóng bỏng xuyên qua lớp áo, in hằn rõ rệt lên da thịt nàng.
Tô Ngọc Dung ngơ ngác quay lại, bắt gặp ánh mắt của Lận Chiêm.
Đôi mắt vốn luôn lạnh lùng tĩnh lặng ấy, lúc này đang cuộn trào những cảm xúc mà nàng không thể hiểu thấu. Những đốt ngón tay Lận Chiêm vì dùng lực mà hơi trắng bệch, đầu ngón tay run rẩy nhẹ.
Hắn dồn hết sức bình sinh để kìm nén d*c v*ng của mình, nhìn chằm chằm vào gương mặt Tô Ngọc Dung. Khối thịt trong lồng ngực hắn dường như sống lại, đập loạn xạ điên cuồng, trực chờ phá tung ra ngoài.
Lận Chiêm chợt nhận ra, bấy lâu nay, thật ra hắn không hề ghét Tô Ngọc Dung, không phải hắn nghĩ nàng dùng thủ đoạn để trèo cao gả cho Lận Đàn, hắn cũng chưa từng không thích nàng. Hắn chỉ là đang đố kỵ, là không cam tâm. Huynh trưởng đã sở hữu quá nhiều thứ mà hắn không có, tại sao, tại sao ngay cả Tô Ngọc Dung cũng là vợ của huynh trưởng cơ chứ?
Không cam lòng, thật sự không cam lòng.
Tô Ngọc Dung ngây người nhìn hắn, cổ tay bị nắm đến mức hơi đau: “Tiểu thúc, sao thế?”
“Tẩu tẩu…” Lận Chiêm rốt cuộc cũng buông tay. Hắn đột ngột mỉm cười, lúc cánh tay buông thõng xuống, đầu ngón tay lướt qua lòng bàn tay nàng. Ánh mắt hắn sáng rực và nóng bỏng.
“Đa tạ tẩu đã mừng sinh thần cho đệ. Trời sắp tối rồi, tẩu mau về đi, lên đường bình an.”