Ngoại Thất - Khúc Chử Miên

Chương 64


Chương trước Chương tiếp

 

Sáng ngày hôm sau, khi Tần Thư tỉnh dậy, Lục Trạch vẫn như thường lệ, đã không thấy bóng dáng đâu nữa.

Tiểu Hồi Hương bưng chậu nước nóng đi vào: “Cô nương, chưởng quỹ của tiệm Nhật Xương Long đã tới rồi, đang ở bên ngoài chờ để báo cáo công việc ạ.”

Tần Thư vội vàng thức dậy, thay quần áo và rửa mặt chải đầu rồi bảo: “Mau mời ông ấy vào đây.”

Vị chưởng quỹ này không phải là người đã đến bẩm báo vào ngày Lạp Bát, có điều cách ăn mặc thì lại khá tương đồng, đầu đội mũ tứ phương, trên người mặc áo kẹp bông màu xám. Vừa bước vào, ông ấy liền quỳ trước bình phong thỉnh an: “Tiểu nhân là Từ An, xin thỉnh an cô nương. Sáng sớm hôm nay Thế tử đã dặn dò rằng cô nương muốn mua một lô lương thực, nên sai tiểu nhân tới đây để xin chỉ thị của cô nương ạ.”

Tần Thư ngồi sau tấm bình phong, đặt xấp ngân phiếu và giấy chứng nhận cổ phần lên khay, rồi ra hiệu cho Tiểu Hồi Hương mang ra ngoài: “Ta cũng không có chỉ thị gì đặc biệt, chỉ là muốn mua một đợt lương thực để cứu tế nạn dân. Lương thực không cần loại quá tốt, chỉ cần gạo tẻ là được, miễn sao có thể ăn no bụng. Không rõ số tiền này thì có thể mua được bao nhiêu?”

Chưởng quỹ họ Từ kiểm đếm lại xấp ngân phiếu: “Bẩm cô nương, ở đây có mười tờ ngân phiếu của phiếu hiệu Đại Thông, mỗi tờ trị giá năm ngàn lạng, tổng cộng là năm vạn lạng bạc. Cộng thêm phần cổ phần này của cô nương, có thể lập tức đổi ra được hơn một vạn lạng nữa. Như vậy tổng cộng là sáu vạn lạng bạc. Ở vùng Điệp Khê thuộc Tùng Phan, một thạch gạo đáng giá hai lạng bạc; còn ở Tiểu Hà thuộc Mậu Châu thì rẻ hơn một chút, một thạch gạo giá một lạng bạc. Tuy nhiên, đây là giá lúc vụ mùa mùa thu vừa mới thu hoạch, còn vào thời điểm này giá chỉ có cao hơn chứ không có thấp hơn đâu ạ. Huống hồ, hiện nay đang có chiến sự, lương thực phần lớn đều bị thu gom để làm quân lương cả rồi.”

Tần Thư nào có biết mấy nơi Điệp Khê, Tiểu Hà mà ông ấy nói là ở đâu. Hồi còn ở Dương Châu, nàng đi mua gạo chẳng qua cũng chỉ xem bảng giá treo ở cửa hàng lương thực là bao nhiêu tiền mà thôi.

Tần Thư nói: “Ta cũng không biết là có nhiều quy tắc đến vậy, chỉ sợ nếu mua ở nơi quá xa thì vận chuyển về mất quá nhiều thời gian. Thế này đi, trước tiên cứ trích ra một vạn lạng để mua quanh vùng Hàng Châu này, số còn lại thì hãy đến những nơi giá gạo thấp để thu mua?”

Chưởng quỹ họ Từ cúi đầu vâng lệnh: “Tiểu nhân sẽ đi làm ngay.”

Vài ngày sau, Từ chưởng quỹ lại tới báo cáo, nói rằng mọi việc đều đã thu xếp ổn thỏa. Mua lương thực ở đâu, mua bao nhiêu, tốn bao nhiêu tiền, đã vận chuyển đến đâu, ông ấy đều lập thành một quyển sổ cái chi tiết để trình lên cho Tần Thư.

Tần Thư thấy ông ấy làm việc thỏa đáng như vậy, bèn giao luôn cả việc phát lương thực cho ông phụ trách. Vì sợ đám lưu manh vô lại trên phố cũng trà trộn vào nhận, nàng còn đặc biệt dặn dò: Chỉ cho phép những người già và trẻ nhỏ nghèo khổ được nhận, mỗi người nửa thăng gạo.

(10 thăng = 1 đấu, 10 đấu = 1 thạch)

Hôm ấy tiết trời rất đẹp, Tần Thư đang ở trong nhà kính chăm chút mấy chậu ớt quý giá của mình, thì thấy Tiểu Hồi Hương lại bưng thuốc đến: “Cô nương, đến giờ uống thuốc rồi ạ.”

Tần Thư đặt chiếc xẻng sắt nhỏ xuống, thấy đại phu lại thay đổi đơn thuốc, mùi vị không còn khó ngửi như trước nữa. Nàng bưng lên uống một ngụm rồi hỏi: “Nhắc đến đây ta mới nhớ ra, lát nữa em hãy ra ngoài mời một vị đại phu khác về đây.”

Tiểu Hồi Hương bưng một chén trà nóng khác cho nàng súc miệng, cô ấy ngạc nhiên thốt lên: “Cô nương, người khám bệnh cho cô nương vốn là bậc thầy phụ khoa có tiếng ở thành Hàng Châu này đấy, chẳng lẽ người còn chê y thuật của ông ấy không tốt sao?”

Tần Thư gõ nhẹ vào đầu con ấy một cái: “Ta không chê y thuật của ông ấy không tốt, nhưng chúng ta cũng phải tôn trọng sự thật khách quan chứ. Trước đây ta tới kỳ kinh nguyệt, tuy rằng đau đến mức khó nhịn, nhưng dẫu sao tháng nào cũng có. Bây giờ uống thuốc của ông ấy vào, đã là giữa tháng Ba rồi, tính ra thêm vài ngày nữa là tròn ba tháng chưa thấy gì rồi đấy.”

Tiểu Hồi Hương suy nghĩ một lát rồi nói: “Đại phu chẳng phải đã nói rồi sao ạ? Đây là chuyện bình thường, khi uống thuốc điều lý cơ thể, thì ‘ngày ấy’ sẽ khác với lúc bình thường thôi. Người ta dù sao cũng là danh y, giờ cô nương muốn đổi người khác, thì em biết nói làm sao đây?”

Tần Thư liếc xéo con bé một cái, rồi đưa số ớt vừa hái cho bà tử dưới bếp đang đứng chờ bên cạnh: “Mang chỗ ‘phiên tiêu’ này sấy khô theo cách ta đã dặn, rồi dùng chảo sắt rang cho thơm. Cứ làm như lần trước, dùng mỡ bò để chưng, thêm bát giác, lá thơm…”

Bà tử nọ dùng hai tay nâng niu đống ớt nhỏ, cười hớn hở gật đầu: “Cô nương cứ yên tâm, tôi nhất định sẽ làm đúng theo cách cô nương dặn.”

Tần Thư quay về phòng, dùng sáp rửa sạch tay rồi dặn dò Tiểu Hồi Hương: “Chuẩn bị xe đi, ta phải tới giáo đường một chuyến.”

Tiểu Hồi Hương ngập ngừng: “Lần trước người đi, đại nhân đã nói rồi, bảo người nên ít qua lại với đám nhà sư tóc vàng kia thôi.”

Tần Thư đưa tay khẽ véo tai cô ấy, rồi nói: “Có điều đại nhân nhà em đã đi Đài Châu một tháng rồi, bớt lấy ngài ấy ra mà áp chế ta đi.”

Sau tháng tháng Giêng, Lục Trạch bắt đầu bận rộn tối mày tối mặt. Có khi bốn năm ngày mới ghé lại một lần, có khi nửa đêm mới tới, mệt đến mức vừa ngả lưng đã ngủ thiếp đi. Qua chừng mươi ngày, hắn lại phải đi Đài Châu, tính đến nay đã hơn một tháng rồi.

Tiểu Hồi Hương không còn cách nào khác, đành phải chuẩn bị xe ngựa, rồi cả đoàn đi đi về phía giáo đường.

Thời bấy giờ giáo đường vẫn còn thưa thớt, chỉ lác đác tại vài thành trì ven biển. Chẳng rõ bọn họ đã thông qua cửa ngõ của vị đại nhân nào nơi triều đình, mà khiến Lễ bộ chuẩn y cho lưu lại trong nước Đại Tề dưới danh nghĩa triều cống.

Tần Thư ngồi trên xe ngựa, lòng đầy tâm sự. Ôn Lăng tiên sinh và Hạ Cửu Sanh vốn là bạn chí cốt, bài từ đó chắc chắn đã sớm đến tay Hạ Cửu Sanh rồi. Nếu người nọ thật sự có ý muốn nhận đồng hương, e là đã sớm tìm đến từ lâu. Vậy mà suốt hơn hai tháng qua vẫn bặt vô âm tín, chỉ sợ vị Hạ học sĩ kia không giống như nàng tưởng tượng. Với một kẻ vô dụng đối với mình, dù có là người cùng quê, thì người nọ cũng sẽ không vội vàng ra tay cứu giúp đâu.”

Giáo đường nằm ở phía Nam thành Hàng Châu, là một công trình Công giáo với phong cách kiến trúc vô cùng đặc trưng. Mang đậm dấu ấn kiến trúc Gothic điển hình, từ tận đằng xa đã có thể nhìn thấy tháp chuông cao vút, từng tiếng chuông đồng vang vọng, ngân xa đến tận hàng trăm mét.

Khi Tần Thư xuống xe, linh mục Xa Vật Lợi đã đứng đợi sẵn ở cửa. Chỉ là ông không mặc áo bào đen thường thấy, mà trái lại, ông ăn vận giống hệt như các sĩ phu thời bấy giờ: đầu đội mũ tứ phương, mình mặc áo nho sinh, lại còn học theo các văn nhân bấy giờ để một chòm râu dài rất đẹp.

Sa Vật Lợi mỉm cười, vừa cất lời đã là giọng Quan thoại chuẩn mực và thanh tao, không hề lẫn chút chất giọng địa phương nào: “Phu nhân, có phải người đã suy nghĩ kỹ và dự định quy y theo Thiên Chúa giáo của chúng tôi rồi không?”

Tần Thư nói: “Sa tiên sinh, đức tin tôn giáo của một người trong cả cuộc đời, sao có thể quyết định một cách qua loa chỉ trong vòng một tháng được? Huống hồ, ta vẫn chưa hiểu rõ lắm về tôn giáo của các ngài. Một người mới chỉ biết nửa vời về Thiên Chúa giáo, thì cho dù bây giờ có quy y đi chăng nữa, e rằng cũng không thể hoàn toàn tin phụng Chúa của các ngài được, phải không?”

Sa Vật Lợi gật đầu: “Hôm nay tại nhà thờ có buổi giảng đọc Kinh Thánh, nếu phu nhân cảm thấy hứng thú thì có thể ghé qua lắng nghe.”

Tần Thư mỉm cười: “Đó quả là vinh hạnh của ta.”

Khi đoàn người của họ bước vào trong, liền thấy toàn bộ lối đi đều đã được lát bằng gạch xanh. Những cột đá cẩm thạch, cửa sổ đá, cùng các lanh-tô cửa đều được chạm khắc vô cùng tinh xảo. Các ô cửa sổ xung quanh được lắp kính màu, vận chuyển từ mẫu quốc xa xôi, phía trên khắc họa các loài hoa và những điển tích trong Kinh Thánh. Phía sau cây thập giá ở vị trí trang trọng nhất, là một bức tranh vẽ cảnh Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá.

Tiểu Hồi Hương lộ rõ vẻ mặt không nỡ nhìn, kéo tay Tần Thư, rồi khẽ lẩm bẩm oán trách: “Cô nương, làm gì có ai lại vẽ người tr*n tr**ng lên tường như thế chứ, đúng là đám người man di, đến cả lễ nghi của Đại Tề ta mà cũng chẳng hiểu.”

Tần Thư vỗ nhẹ lên tay cô ấy, ra hiệu cho nó giữ yên lặng, rồi tùy ý chọn một chiếc ghế dài ngồi xuống. Nàng đảo mắt nhìn quanh một lượt, thấy người trong nhà thờ không nhiều, đa phần đều là những người đàn ông ăn mặc phú quý theo lối sĩ phu, hoàn toàn không thấy bóng dáng những người dân nghèo khổ.

Sa tiên sinh ngồi xuống bên cạnh Tần Thư, thấy vậy liền giải thích: “Có một vị quý nhân từng gợi ý cho chúng tôi rằng, trước hết nên phát triển tín đồ trong giới văn nhân sĩ phu, chỉ khi họ chấp nhận chúng tôi, thì bách tính mới có thể tiếp nhận chúng tôi được.”

Tần Thư mỉm cười: “Ta biết, là Hạ học sĩ Hạ Cửu Sanh đã khuyên các ngài làm như vậy.”

Sa tiên sinh tỏ ra khá ngạc nhiên, ông suy nghĩ một chút rồi nói: “Phu nhân dường như dành sự quan tâm đặc biệt một cách bất thường đối với những chuyện liên quan đến Hạ học sĩ.”

Tần Thư đáp lại một cách lấy lệ: “Sa tiên sinh, ở triều đại Đại Tề của chúng tôi, phụ nữ phải chịu rất nhiều gông cùm trói buộc, chỉ là vật phụ thuộc của nam giới mà thôi. Một người phụ nữ có thể làm được những việc như Hạ học sĩ, chẳng lẽ lại không đáng để người ta tò mò và quan tâm hay sao?”

Một lát sau, tiếng giảng kinh dừng lại, tiếng ngâm tụng của vài đứa bé vang lên. Những người đọc sách đang ngồi trên ghế dài lần lượt đứng dậy đi ra ngoài, chỉ còn hàng ghế đầu vẫn có một người khoảng bốn mươi tuổi đang ngồi lại.

Tần Thư nói với Tiểu Hồi Hương: “Em đi lấy số lương thực chúng ta mang tới phát cho những người dân nghèo đến nhà thờ đi. Nhớ kỹ, phải phát cho người già và trẻ nhỏ trước, số còn lại mới phát cho người trẻ. Ta thấy trong người hơi khó chịu, nên sẽ ngồi đây đợi em.”

Tiểu Hồi Hương nghe xong thì hơi ngập ngừng: “Cô nương thấy trong người không khỏe ở đâu sao? Hay là chúng ta về nhà rồi mời đại phu đến nhé?”

Tần Thư liếc nhìn cô ấy một cái: “Chẳng qua là ăn hơi nhiều một chút nên bị đầy bụng thôi, việc gì mà hở ra một tí là mời đại phu, còn chê ta uống thuốc chưa đủ nhiều hay sao?”

Tiểu Hồi Hương tự biết mình lỡ lời, bèn gật đầu: “Vậy được ạ, nô tỳ đi phát lương thực, quá lắm cũng chỉ mất một khắc đồng hồ thôi. Cô nương cứ ngồi đây, đừng đi đâu lung tung, nếu để kẻ nào va chạm phải thì không hay đâu.”

Tần Thư không nói gì, Tiểu Hồi Hương cúi người hành lễ, rồi theo chân linh mục Sa bước ra khỏi cửa.

Cả nhà thờ, ngoại trừ đội hợp xướng phía trước, thì chỉ còn lại Tần Thư và người đàn ông đang ngồi ở hàng ghế đầu tiên.

Tần Thư chậm rãi tiến lên phía trước: “Vạn tiên sinh.”

Người đàn ông đó đang nhắm mắt lắng nghe tiếng ngâm vịnh của đoàn hợp xướng, nghe thấy câu này liền mở mắt ra, thấy trước mặt là một người phụ nữ trẻ tuổi, bèn nghi hoặc: “Phu nhân, người quen biết tại hạ sao?”

Tần Thư mỉm cười, rồi ngồi xuống cách ông ta hai vị trí: “Tổng chưởng quầy chi nhánh Hàng Châu của phiếu hiệu Đại Thông, ai mà không biết tới cơ chứ?”

Người đàn ông nọ nghe vậy thì khẽ mỉm cười, rồi quay đầu đi: “Phu nhân, ở đây chỉ có một tín đồ thành tâm, chứ chẳng có vị chưởng quầy chi nhánh Hàng Châu của phiếu hiệu Đại Thông nào cả, những thân phận thế tục đó xin đừng mang vào nơi thánh đường thiêng liêng này.”

Tần Thư nói: “Mạo muội làm phiền tiên sinh, thực lòng là do tình thế bắt buộc. Tôi có một món đồ liên quan đến phiếu hiệu, nghĩ rằng ở đây chỉ có tiên sinh là người trong nghề, nên mới mạn phép đến đây thỉnh giáo.”

Người đàn ông đó là một tín đồ Thiên Chúa giáo ngoan đạo, đối với những người đến đây làm lễ, bất kể sang hèn ông ta đều có thêm vài phần khoan dung nhẫn nại, lại thấy Tần Thư ăn vận sang trọng, e rằng xuất thân từ gia đình đại phú đại quý, trong lòng thầm nghĩ chẳng qua cũng chỉ là chuyện hối đoái phiếu hiệu, vài ba câu là có thể nói rõ ràng, bèn đáp: “Mời nói.”

Tần Thư lấy từ trong lòng áo ra một bản tài liệu: “Phiếu hiệu trong thiên hạ, phía Bắc lấy Đại Thông làm đầu, phía Nam lấy Nhật Xương Long làm trọng. Tôi ở đây có một bản tài liệu, nếu như tiên sinh làm theo phương thức này, thì tại Hàng Châu cần gì phải kiêng dè Nhật Xương Long nữa?”

Người đàn ông nọ nghe thấy lời này thì khẽ cười nhạt, khẩu khí quả thực không nhỏ. Hai nhà phiếu hiệu kể từ ngày thành lập đến nay đã đấu đá suốt mười mấy năm trời, đôi bên đều có thắng có thua, mỗi nhà chiếm cứ một phương Nam – Bắc. Kể từ sau khi vị Tổng đốc mới nhậm chức, phiếu hiệu Đại Thông đã liên tục bại trận tại vùng Giang Nam, chỉ còn dựa vào vài thương hội để vận chuyển bạc về phương Bắc, gắng gượng duy trì mà thôi.

Trong lòng ông ta vốn chẳng hề coi đó là chuyện quan trọng, chỉ tùy ý lật mở một trang, thấy chữ viết bên trên vừa thiếu nét lại còn viết theo hàng ngang, ông ta không khỏi mỉm cười, thầm đoán chắc rằng Tần Thư nhất định là kẻ chẳng thông thạo văn chương. Nhìn một lúc, vừa đoán vừa mò, bấy giờ ông ta mới hiểu ra đây là một cái tiêu đề: “Sơ lược về chế độ tài chính của Phiếu hiệu”, nhưng trong mớ từ ngữ này, ông ta cũng chỉ thấy mỗi hai chữ “Phiếu hiệu” là quen thuộc.

Lật thêm một trang nữa, ông ta cũng không hiểu lắm, đó là một vài tiêu đề phụ, phía sau nối với những dấu chấm đen và các con số Ả Rập, loại số này thì ông biết, cũng biết làm vài phép toán đơn giản. Lùi xuống phía dưới là một tiêu đề: “Tóm tắt nội dung”, cũng lại là những từ ngữ mới mẻ nghe hiểu được phân nửa.

Vạn chưởng quầy liếc mắt lướt qua, nhưng bỗng chốc bị một dòng phía dưới thu hút mạnh mẽ: “Xây dựng chế độ nhân sự của Phiếu hiệu”. Ông ta đọc kỹ một lượt, lúc này chẳng còn bận tâm đến việc câu chữ lạ lẫm quái chiêu, cũng không còn thấy cách trình bày hàng ngang là khó chịu nữa, lập tức đọc đi đọc lại hai ba lần. Trong lòng chấn động dữ dội, ông ta vội vàng lật sang trang sau, nhưng chỉ thấy một tờ giấy trắng, bèn quay sang hỏi Tần Thư: “Phu nhân, nội dung phía sau đâu rồi?”

Tần Thư đứng dậy, khẽ mỉm cười: “Xem ra Vạn tiên sinh là người rất tinh đời.”

Vạn chưởng quầy sốt sắng nói: “Dám hỏi phu nhân, bài viết này là do ai soạn ra vậy? Nếu không phải người đã lăn lộn trong ngành phiếu hiệu mấy mươi năm, thì sao có thể viết ra được những dòng như thế này? Vị cao nhân ấy đã bằng lòng để phu nhân mang bài viết cho tôi xem, thì tôi nhất định phải đích thân tới bái phỏng, cùng người ấy đàm đạo suốt đêm mới được.”

Tần Thư lắc đầu: “Đây là do một vị tiên sinh họ Tần viết, chỉ là tính tình người ấy vốn không thích gặp người lạ, bằng lòng cho Vạn tiên sinh xem bài viết này cũng là vì người ấy thực sự ngưỡng mộ Hạ học sĩ.”

Hạ Cửu Sanh trước khi thăng chức Lễ bộ Thượng thư, từng có hơn mười năm làm quan ở địa phương, bôn ba khắp các vùng Giang Nam Giang Bắc, chính tay bà ấy đã sáng lập và hỗ trợ phiếu hiệu Đại Thông. Chỉ tiếc rằng vị Hạ học sĩ này có lẽ biết phiếu hiệu và tài chính có thể hái ra tiền, nhưng lại không biết cách làm sao để kiếm được tiền. Vì thế, tuy sáng lập phiếu hiệu Đại Thông sớm nhất, nhưng lại để Nhật Xương Long ở vùng Giang Nam có xu hướng âm thầm vượt mặt.

Tần Thư nói xong liền định bước ra ngoài.

Vạn tiên sinh vội vàng bước nhanh tới, ngăn Tần Thư lại: “Phu nhân đưa bản kiến nghị này cho tôi, đã đưa rồi, lẽ nào lại chỉ đưa có một nửa hay sao?”

Tần Thư đứng khựng lại: “Vạn tiên sinh, những lời khác không cần phải nói thêm nữa. Ông tốt nhất nên truyền tin về Bắc Kinh đi, chuyện này ông không tự quyết định được đâu.”

Vạn chưởng quầy ngẩn người ra đó, nhìn bóng dáng người phụ nữ ấy đi về phía ánh sáng rạng rỡ, tà áo tung bay, liền vội vàng hỏi vọng theo: “Phu nhân hiện đang ở nơi nào? Làm sao để liên lạc được với vị tiên sinh họ Tần này đây?”



Loading...