Ngoại Thất - Khúc Chử Miên

Chương 50: Hạt ngọc trai


Chương trước Chương tiếp

 

Lúc này, Trừng nương tử từ bên ngoài đi vào, trên tay cầm một chiếc hộp nhỏ: “Cô nương, đã là người nhà của người, chẳng có lý nào lại để họ ra về tay không. Ở đây có năm mươi lượng ngân phiếu cùng mười lượng bạc vụn. Tôi đã lâu không hầu hạ trong viện tử, chẳng rõ bổng lộc dành cho nha hoàn thông phòng trong phòng các vị thiếu gia bây giờ ra sao, nếu có nhớ nhầm thì mong cô nương cứ việc sai bảo.”

Cả Hạ Hà và Chu Hoành Sinh đều đờ người ra. Nha hoàn thông phòng? Cho dù hai người họ không am hiểu quy củ của các gia đình quyền quý, thì cũng thừa biết đây chẳng phải chuyện cưới hỏi hay nạp thiếp đàng hoàng gì.

Ngay tại con phố họ ở, lão Vương chưởng quầy của tiệm tơ lụa từng mua một đứa con gái về làm việc bếp núc, ban ngày lo xong việc dưới bếp, ban đêm còn phải làm ấm giường cho lão ta. Một hai năm sau, cô ấy sinh được một đứa con gái. Lão Vương chưởng quầy chê bai sinh con gái là điềm gở, đen đủi, liền thẳng tay bán người đi, tính ra còn hời hơn lúc mua về được hẳn một lượng bạc.

Cả hai người thầm nghĩ trong lòng, cái danh “nha hoàn thông phòng” này so với đứa con gái làm bếp chuyên lo việc cọ rửa, nấu nướng nhà lão Vương chưởng quầy kia, có lẽ cũng chẳng khác là bao.

Trừng nương tử cười tủm tỉm đặt chiếc hộp vào tay Hạ Hà: “Đừng khách khí, đây vốn là thứ các người nên nhận. Đáng lẽ ra còn được nhiều hơn thế, hiềm nỗi cô nương vẫn chưa được tiến phủ mà chỉ ở bên ngoài này thôi. Chủ tử không dặn dò gì thêm, nên tôi cũng chẳng dám làm trái quy định quá mức.”

Hạ Hà bị nàng ta nhét chiếc hộp vào tay, mặt đỏ bừng lên vì vừa thẹn vừa giận. Cô ấy sợ Tần Thư sẽ khó xử nên đành giả vờ như không hiểu gì cả: “Tôi không lấy đâu, đại nương nhà chúng tôi không cho phép chúng tôi nhận đồ của người lạ một cách tùy tiện.”

Chu Hoành Sinh cầm lấy chiếc hộp rồi từ chối thẳng thừng: “Không có công thì không hưởng bổng lộc, chúng tôi không cần đâu.”

Nói xong, cậu ấy đỡ Hạ Hà lên xe ngựa, rồi chắp tay vái chào Tần Thư: “A tỷ, tỷ nhớ bảo trọng nhé. Ở nhà đều ổn cả, tỷ không cần phải lo lắng đâu.”

Tần Thư đứng chôn chân tại chỗ, nàng lấy ra một túi tiền rồi nhét vào tay Chu Hoành Sinh: “Đệ cầm lấy mà làm lộ phí đi đường.”

Nàng đứng nhìn họ bước lên xe ngựa, bánh xe lăn trên nền tuyết để lại hai đường những vết nông sâu, trong lòng nghẹn đắng, một chữ cũng không thốt ra nổi.

Trừng nương tử bèn nói: “Chẳng ngờ người nhà của cô nương ai nấy đều xem nhẹ tiền tài như vậy. Chỉ nghe nói cô nương vốn là đời đời làm nô bộc trong phủ Quốc công, không ngờ ở Dương Châu vẫn còn thân thích cơ đấy?”

Tần Thư đang bước lên bậc thềm, nghe thấy lời này liền quay đầu nhìn xuống nàng ta, nàng hỏi: “Trừng nương tử, ta với ngươi vốn không có tư thù gì, tại sao ngươi lại phải khiến ta bẽ bàng trước mặt người thân như thế?”

Trừng nương tử nghe vậy thì thoáng chút kinh ngạc. Những hạng nha đầu như thế này vốn dĩ phải là người có tâm tư khéo léo, dù có phải chịu thiệt thòi thầm kín, lại thêm cảnh mới đến lần đầu, thì theo lẽ thường sẽ chọn cách nhẫn nhịn cho qua chuyện. Chẳng ngờ nàng lại hỏi thẳng thừng như vậy.

Nàng ta vẫn điềm nhiên nhún người hành lễ: “Trong phủ xưa nay hiếm khi có nữ quyến, ngay đến nha đầu cũng ít thấy. Tuy tôi quản lý việc vặt trong phủ nhưng đã quen tính thô lỗ hậu đậu, nếu có chỗ nào sơ sót thì mong cô nương cứ chỉ rõ ra cho.”

Tần Thư lạnh lùng đáp: “Vị thế quản sự nương tử của phủ Tổng đốc đương nhiên là quý giá hơn nhiều so với một kẻ mang danh ngoại thất, đến cả nha hoàn thông phòng còn chẳng bằng.”

Trừng nương tử chỉ mỉm cười, chẳng hề tỏ ra sợ hãi hay cảm thấy bẽ bàng: “Cô nương nói quá lời rồi, người nói như vậy thì tôi còn đâu chỗ đứng ở chỗ của người nữa.” Nói xong, nàng ta đưa chiếc hộp đựng bạc cho Tần Thư: “Cô nương mới chân ướt chân ráo đến đây, trên người chắc hẳn cũng chẳng có bạc để chi dùng, chỗ này xin cô nương hãy nhận cho.”

Sống trong viện tử mười mấy năm trời, lẽ nào nàng lại không nhìn thấu những chiêu trò này, chỉ là nàng không còn kiên nhẫn để diễn cái trò “đấu trí chốn hậu viện” nhỏ mọn ấy nữa. Ngay lập tức nàng gạt phăng chiếc hộp, bạc vụn văng tung tóe khắp mặt đất: “Ngươi nói rất đúng, ngươi không có chỗ đứng ở chỗ của ta đâu, mau cút về phủ Tổng đốc của ngươi đi.”

Lúc này, nơi cổng lớn có vài nha đầu khéo léo đi theo, phía xa bên ngoài thấp thoáng bóng dáng vài hộ nông gia, sắc mặt Trừng nương tử lập tức trầm xuống.

Xưa nay nàng ta luôn có mặt mũi trước mặt Lục Trạch, trong phủ lại không có nữ quyến, nên người trong kẻ ngoài hiển nhiên đều coi nàng ta là người đứng đầu nội trạch. Có bao giờ nàng ta phải chịu cảnh bị bêu riếu trước mặt bàn dân thiên hạ như thế này đâu? Ngặt nỗi nàng ta vốn luôn giữ kẽ, khiêm nhường, nên khi bị Tần Thư mỉa mai một câu như vậy, nàng ta cũng chỉ đành nén giận chịu đựng.

Lúc này, nàng ta chỉ đáp lại đúng một chữ: “Vâng.” rồi xoay người bỏ đi. Vừa đi, nàng ta vừa lẩm bẩm: “Tính tình của vị cô nương này ghê gớm thật, đợi sau này chủ mẫu về cửa, e là gia đạo chẳng được yên ổn rồi. Mình phải thay gia chủ mài giũa cái tính nết này của cô ta mới được, tránh để sau này chủ mẫu phải khó xử.”

Tần Thư lẳng lặng trở về phòng, ngồi một lúc thì thấy chân tay lạnh toát. Nàng đứng dậy dùng kẹp nhấc nắp lò lên, lúc này mới phát hiện than bên trong lò đồng đã cháy sạch, mà trong ngoài phòng cũng chẳng có lấy một bóng người.

Tần Thư thầm nghĩ: Chẳng lẽ Trừng nương tử lại dùng đến cái chiêu ‘dằn mặt’ tầm thường như thế này sao?

Nàng vừa suy nghĩ vừa khoác chiếc áo choàng dày cộp ra khỏi cửa, đi một vòng quanh hành lang mới thấy một bà tử gác cổng ở phía lối vào. Nàng lên tiếng hỏi: “Mấy nha đầu kia đi đâu hết cả rồi?”

Bà tử kia đã có tuổi, lưng còng rạp xuống, miệng thốt ra thứ tiếng địa phương chẳng biết ở vùng nào: “Thưa cô nương, mọi người ra ngoài làm việc hết rồi, nhiều việc lắm…”

Tần Thư lấy từ trong túi gấm ra một hạt trân châu, đây là hạt nàng lấy từ trong hộp của Lục Trạch, rồi đưa cho bà tử kia: “Dẫn ta đến nhà bếp, ta đói rồi.”

Bà tử run rẩy đón lấy, cười đến mức chẳng nhìn thấy mắt đâu, lại còn định đưa lên miệng cắn thử như thử bạc. Tần Thư ngăn bà ta lại: “Trân châu không phải là bạc, không chịu nổi sức cắn đâu. Một hạt trân châu lớn nhường này còn đáng giá hơn cả một khối vàng cùng kích cỡ đấy.”

Bà tử kia cất hạt trân châu đi, cười hớn hở gật đầu lia lịa, đến cả lời nói cũng trở nên rành mạch hẳn ra: “Cô nương nói phải ạ. Cô nương đói rồi thì để bà già này đi bưng cơm canh đến cho. Chỗ bếp núc bẩn thỉu lắm, kẻo khói dầu lại ám bẩn người cô nương. Cô nương muốn dùng món gì thì cứ việc dặn bà già này là được.”

Tần Thư khép lại vạt áo choàng, thắt chặt dây buộc, chỉ để lộ ra mỗi cái đầu nhỏ nhắn: “Không cần đâu, tự ta đi xem xem.”

Trên đường đi, nàng bắt gặp một tiểu tử mặc áo bông vải thô màu xanh, trông chừng mới chỉ bảy tám tuổi, hai tay đang ôm một chậu hoa mai.

Tần Thư gọi thằng bé lại, ngoắc tay bảo: “Tuyết ngoài trời lớn thế này, sao lại để một đứa nhỏ như ngươi đi bê chậu mai vậy?”

Tiểu tử kia ngơ ngác nhìn Tần Thư, nhất thời bị làm cho khiếp sợ. Bà tử gác cổng thấy vậy liền xen vào: “Cô nương, đây là tiểu tử Phú Quý, cha nó mất sớm, giờ nó đang sống với mẹ. Nó cũng chẳng có chức phận chính thức nào trong phủ, chỗ nào thiếu người thì người ta sai nó qua đó thôi.”

Dứt lời, bà ta lôi tiểu tử Phú Quý từ trong đống tuyết lên, rồi mắng: “Mấy chậu mai kia để ngoài trời cũng có chết cóng được đâu, ngươi lo hão cái nỗi gì?”

Tần Thư liền hỏi thằng bé: “Ngươi có biết than bạc để ở đâu không?”

Phú Quý gật đầu cái rụp: “Dạ biết.”

Tần Thư lại hỏi: “Có biết phòng ta ở đâu không?”

Phú Quý gật đầu: “Dạ biết.”

Tần Thư lấy ra một hạt trân châu đặt vào lòng bàn tay thằng bé: “Ta muốn nhờ ngươi giúp một việc, đi lấy một giỏ than bạc về, nhóm hết các lò đồng trong phòng ta lên, ngươi có làm được không?”

Phú Quý có dáng người gầy gò, trông có vẻ suy dinh dưỡng, lúc này cậu bé nắm chặt hạt trân châu trong tay, rồi quả quyết đáp: “Dạ làm được!”

Tần Thư đỡ lấy chậu hoa mai trong lòng thằng bé, tiện tay đặt xuống đất rồi cười bảo: “Đi đi, đợi ngươi làm xong việc rồi hãy quay lại bê chậu mai này.”

Dù sao cũng chẳng phải việc gì khẩn cấp, Phú Quý đáp một tiếng “vâng” rồi lập tức co giò chạy biến vào phía sâu trong hành lang dài.

Bà tử gác cổng thấy tiểu tử Phú Quý cũng được ban cho một hạt trân châu thì không khỏi chua chát nói: “Cô nương cũng hào phóng quá thể, nó chỉ là đứa trẻ con nít ranh, dùng làm sao hết thứ quý giá nhường ấy. Cứ tùy tiện cho nó viên kẹo là nó đã sướng rơn lên rồi.”

Tần Thư chỉ cười nhạt, vừa đi vừa thong thả đáp: “Cũng chẳng phải thứ gì hiếm lạ cho cam. Đã làm việc cho ta thì dĩ nhiên phải được trọng thưởng, bà cũng thế mà tiểu tử kia cũng thế thôi.”

Bà tử kia nghe xong thì chặc lưỡi hít hà, trong trang viên nghe đồn có vị quý nhân mới đến, chẳng ngờ ra tay lại hào phóng đến nhường này?

Thái độ khi nói chuyện của bà ta bất giác thêm vào ba phần nịnh hót: “Phải, phải, phải, cô nương thật tốt tính, chẳng hề khắt khe với kẻ dưới chúng tôi chút nào.”

Nàng đi vòng qua mấy dãy hành lang, theo con đường nhỏ phía sau cửa nguyệt động đi đến tận cùng, liền nhìn thấy vài bà tử đang xắn tay áo lên, giữa sân tỏa khói nghi ngút, họ đang bận rộn giết gà mổ vịt, cười nói rôm rả: “Trừng nương tử trước khi đi đã dặn rồi, vị cô nương kia bị bệnh, chỉ ăn được cháo với rau xanh thôi, mấy món mặn này hời cho chúng ta rồi!”

Tần Thư đứng lặng ở cửa không lên tiếng, bà tử đi cùng bèn ho hắng hai tiếng, rồi cao giọng quát: “Mấy người nói năng bậy bạ gì thế, cô nương đến rồi đây này.”

Đám người ở đây đều là người dưới bếp, trước giờ chưa từng thấy mặt Tần Thư, nay chỉ nhìn cách ăn mặc trên người nàng, trông thoát tục tựa như thần tiên phi tử, lập tức dừng cả tay lại, đứng túm tụm một chỗ rồi khom lưng thưa: “Cô nương, người cần gì cứ sai nha hoàn đến bảo một tiếng là được ạ.”

Tần Thư cũng chẳng buồn đáp lời, nàng bước lên bậc thềm rồi đẩy cánh cửa bếp ra. Thấy bên trong cũng được coi là sạch sẽ, nàng quay đầu nhìn miếng thịt đặt trên thớt, rồi hỏi: “Đây là thịt gì?”

Một bà tử trẻ tuổi hơn gọi là Tưởng tẩu, vốn là quản sự nhà bếp, mỉm cười thưa: “Bẩm cô nương, là thịt bò ạ.”

Tần Thư nhíu mày: “Thịt bò chết bệnh à?”

Tưởng tẩu cười đáp: “Cô nương nói gì lạ thế, chúng ta tuy chỉ là một trang điền ở vùng quê, nhưng dù sao đây cũng là trang điền suối nước nóng của Tổng đốc đại nhân. Thịt này dĩ nhiên là được mổ ở bên ngoài rồi mới đưa vào, không đến mức phải ăn loại thịt bò chết bệnh đâu ạ.”

Khóe miệng của Tần Thư khẽ giật giật. Khá khen cho tên Lục Trạch kia, bản thân hắn chẳng biết đã ăn bao nhiêu thịt bò rồi, vậy mà ngày hôm đó còn dám lôi luật pháp của triều đình ra để hù dọa nàng.

Tần Thư hỏi: “Đã là trang điền suối nước nóng của Tổng đốc đại nhân, không biết ở đây có thù du không?”

Tưởng tẩu tử trả lời dĩ nhiên là có, rồi lại nghe vị cô nương kia dặn dò thêm từng thứ một nào là: sách bò, ruột vịt, cải thảo, huyết vịt, trứng cút, hoài sơn… Tính sơ sơ cũng phải mười bảy mười tám món, bấy giờ nàng mới dừng lại: “Mấy thứ này, mỗi loại cứ thái ra một đĩa mang lên.”

Tưởng tẩu tử đang lúc lưỡng lự: “Cô nương, thù du thì có đấy, nhưng mà vốn dĩ được trồng trong nhà kính, lại đang dùng lửa sưởi ấm để giữ cây, lấy thứ đó ra làm gì ạ?”

Tần Thư khẽ mỉm cười, nàng mở túi gấm ra, bốc một nắm trân châu rồi đưa cho mấy bà tử trong bếp, lần lượt từng người một: “Nào nào, ai cũng có phần cả.”

Mọi người nhất thời vừa kinh ngạc vừa vui mừng khôn xiết, lại nghe Tần Thư nói tiếp: “Hôm nay ta muốn ăn một món ở quê nhà, phải làm phiền các ngươi rồi. Nếu làm tốt thì ta sẽ còn thưởng thêm.”

Đến nước này thì còn gì để bàn cãi nữa, cả đám người đều bị Tần Thư điều động xoay như chong chóng, chẳng ai dám ho he một lời.

Một người vào nhà kính hái thù du mang về, thấy quả chín đỏ mọng, rực rỡ chứ không héo úa vàng vọt như cây ở thư quán Tây Lãnh, nàng lấy làm hài lòng lắm, liền sai người hái hết xuống để dùng thay cho ớt.

Tần Thư vốn dĩ chưa từng tự tay nấu nước cốt lẩu bao giờ, nhưng may sao đám người ở đây rất được việc, nàng chỉ cần nói qua là họ đã hiểu ngay ý đồ: “Cô nương muốn làm món lẩu nước, nhưng lại thêm vị cay của thù du vào, có phải không ạ? Nếu muốn cay thì dùng mỡ bò chưng lên là tốt nhất.”

Tần Thư gật đầu khen ngợi, nhưng người quản sự nhà bếp lại bảo: “Đây không phải cách mà tôi tự nghĩ ra đâu ạ, mà là trước kia từng có người thích ăn theo kiểu này, chỉ có điều người vùng chúng tôi không chuộng ăn cay cho lắm.”

Tần Thư đứng đó nhìn họ bắt tay vào làm việc rộn ràng, thỉnh thoảng lại nhắc nhở vài câu: “Thịt bò thái mỏng một chút, sách bò không cần dùng dao cắt, cứ thuận theo thớ mà xé bằng tay là được…”

Đợi chừng nửa canh giờ sau, mùi thơm từ lớp váng dầu thù du đỏ rực đang sôi trong chiếc chảo lớn tỏa ra ngày càng nồng đậm. Tần Thư dùng đầu đũa chấm một chút nếm thử rồi mỉm cười: “Tuy không sánh được với ớt, nhưng thế này cũng khá ổn rồi.”

Ngay lập tức, nàng sai người múc nước dùng ra rồi đổ vào chiếc nồi đồng đỏ, chưa kịp đợi mang về phòng đã gắp ngay một miếng sách bò vào nhúng nhúng.

Mấy bà tử ngửi thấy mùi này đều bị sặc cả lên, lại thấy nàng nuốt trôi cả miếng đỏ rực vị cay như thế, vậy mà vị cô nương kia còn liên tục gật đầu: “Được lắm, đúng là cái vị này rồi. Mau bưng về phòng cho ta.”

Nàng lại tháo chiếc túi gấm bên hông xuống, mở ra rồi cười híp mắt bảo: “Tưởng nương tử, ngươi rất được việc, hạt này cho ngươi. Từ ma ma, ta bảo sao thì bà làm vậy, rất đúng ý ta, hạt này cho bà.”

Nói dứt lời, trước ánh mắt mong chờ của đám đông, nàng lại thu túi gấm lại rồi đeo vào bên hông, vừa cười vừa nói: “Cứ thong thả, lần tới các ngươi làm tốt việc ta giao, thì dĩ nhiên ta sẽ lại thưởng.”



Loading...