Khoảng thời gian này mọi việc ở Phúc Kiến đã định, Lục Trạch dâng tấu chương, vẫn theo lệ cũ lập Tổng đốc phủ tại Hàng Châu. Tiện đường đi qua Dương Châu, thủ lĩnh thương nhân muối là Tống Nhân đã bày tiệc tại Hà Phong tiểu trúc để khoản đãi Lục Trạch.
Đêm ấy tuyết rơi lất phất, bốn con tuấn mã với sắc trắng tinh khôi đạp tuyết mà đến. Lục Trạch khoác trên mình chiếc áo choàng dài không tay, màu trắng, vừa bước xuống xe ngựa đã thấy Tống Nhân đang cung kính đợi sẵn trước cửa. Gã còn rất trẻ, chừng hơn hai mươi tuổi, lập tức quỳ sụp xuống: “Thỉnh an Gia!”
Bên cạnh Tống Nhân là một nữ tử chừng hai mươi tuổi, lông mày và ánh mắt có phần phong trần thô ráp, đôi bàn tay đầy những vết chai sạn. Nàng ta mặc một chiếc áo trực chuyền màu xám theo lối nam tử, thắt đai lưng bích ngọc, tuy nhiên do không có hầu kết lại chẳng hề bó ngực, nên người ngoài nhìn qua là biết ngay thân phận nữ nhi. Nàng ta không quỳ lạy, chỉ chắp tay hành lễ: “Hạ quan là Lương Châu thủ tướng Lý Lương Chi, bái kiến Đốc hiến đại nhân.”
Từng bông tuyết lất phất rơi, Lục Trạch thấy nữ tử kia chỉ mặc một lớp áo mỏng manh, bèn nhàn nhạt ừ một tiếng, rồi mới ôn tồn hỏi: “Mùa đông ở Dương Châu chắc là chẳng thể bì được với vùng Tây Bắc đâu nhỉ?”
Lý Lương Chi có phần dè dặt, hơi khom lưng rồi cúi đầu thưa: “Bẩm đại nhân, mùa đông ở Dương Châu quả thực không lạnh. Mùa đông nơi Tây Bắc trái lại đất đai nứt nẻ, gió lạnh cắt da cắt thịt như dao cứa vậy.”
Lục Trạch gật đầu: “Vào trong rồi nói tiếp.” Đoàn người chẳng rõ tiến vào Hà Phong tiểu trúc từ lối cổng nào, nhưng cảnh tượng hiện ra trước mắt hoàn toàn khác biệt với những gì Tần Thư từng thấy trước đó. Nào là đá tảng chồng lớp thành từng hòn núi giả, dòng nước chảy quanh co uốn lượn, nước biếc cây xanh hòa quyện, đúng là mỗi bước đi lại mở ra một phong cảnh tuyệt mỹ.
Lục Trạch bèn hỏi: “Tiểu viện này là do ngươi đích thân bài trí sao?”
Tống Nhân theo sau nửa bước, cung kính thưa: “Bẩm Gia, nơi này là do Tô tiểu thư bài trí ạ.” Lục Trạch nghe xong liền trầm mặc, không nói thêm câu nào nữa.
Tiến vào một gian phòng ấm, kẻ hầu người hạ tấp nập dâng lên đủ loại cao lương mỹ vị. Sau khi mọi người đã an tọa, thì Lục Trạch mới thong thả cất lời: “Ngươi từ Tây Bắc đến, vốn chẳng am hiểu về phong tục tập quán của Giang Nam. Phải biết rằng, Tây Bắc và Giang Nam là hai nơi hoàn toàn khác biệt.”
Lời này vốn mang hàm ý sâu xa, nếu là kẻ khác nghe thấy hẳn đã mồ hôi lạnh chảy ròng ròng, quỳ gục xuống đất mà thỉnh tội. Thế nhưng Lý Lương Chi vốn là người nơi trận mạc, lại từng trải qua gươm giáo đạn lạc, nàng ta im lặng một hồi rồi mới đáp: “Hạ quan vốn là tướng lĩnh cầm quân, chỉ biết rằng bất kể là ở Tây Bắc hay Giang Nam, chức trách của hạ quan cũng chỉ là dẫn binh đánh trận, ngoài ra những việc khác đều không màng tới.”
Lục Trạch nghe xong thì hài lòng gật đầu. Đông Cung thái tử hiện nay vốn là nữ nhi duy nhất của bệ hạ. Để chặn đứng miệng lưỡi thế gian, bệ hạ đã có ý đề bạt hai vị nữ quan, một văn một võ. Về văn chính là Lễ bộ Thượng thư Hạ Cửu Sanh đương triều, còn về võ chính là Lý Lương Chi – người đã thay cha trấn giữ thành trì này. Tuy nhiên, triều đình vốn dĩ văn võ khác biệt, một người là đại viên nhất phẩm chốn kinh kỳ, người kia lại chỉ là thủ tướng tứ phẩm ở địa phương.
Lần này Lục Trạch điều Lý Lương Chi đến Hàng Châu, đương nhiên là có dụng ý riêng của mình: “Việc binh đao cốt yếu nhất là luyện quân. Tuy ngươi đã tới đây, nhưng đội quân Hổ Bôn nơi Tây Bắc của ngươi lại không đi cùng. Không có binh mã mà bàn chuyện tác chiến, chẳng khác nào kẻ không có tay mà muốn múa kiếm ra trận. Ngươi dự tính sẽ trưng binh ở đâu? Và chọn binh như thế nào?”
Đây chính là cuộc khảo hạch chính thức, Lý Lương Chi chỉnh đốn lại thân mình, rồi dõng dạc thưa: “Bẩm đại nhân, Giang Nam vốn dĩ trù phú, nơi có dân chúng kiêu dũng thiện chiến cực kỳ hiếm hoi. Hạ quan có nghe danh dân chúng ở vùng Nghĩa Ô vừa hung hãn vừa mạnh mẽ, thường xuyên xảy ra huyết chiến giữa các thôn tộc, hạng người ấy có thể dùng được. Về việc tuyển binh, có bốn loại người hạ quan sẽ không chọn: hạng du đãng xảo trá nơi thành thị không tuyển, hạng lính cũ lọc lõi gian manh không tuyển, hạng dân thành thị chẳng biết kiêng dè uy quyền của quan phủ không tuyển, và hạng công tử bột da trắng thịt mềm lại càng không tuyển. Bốn hạng người này nếu cho vào quân ngũ, chưa đánh trận thì quân tâm đã sớm tan rã rồi.“
Lục Trạch nghe xong lấy làm hài lòng, bèn hỏi: “Cần bao nhiêu binh mã?”
Lý Lương Chi đáp: “Binh cốt ở tinh nhuệ, chẳng cốt ở số đông, chỉ cần ba ngàn tinh binh là đủ để đối phó với quân vụ tại Chiết Giang và Phúc Kiến. Duy chỉ có điều, triều đình hiện nay đang chủ trương hòa hoãn, muốn các thế lực phản tặc như cướp biển và nghĩa quân đầu hàng, hạ quan chỉ e mình chẳng có đất dụng võ nữa.”
Lục Trạch nghe xong, nhấp một ngụm rượu rồi dõng dạc: “Khi ta khởi hành tới Chiết Giang, đã ở trước điện vua lập hạ quân lệnh trạng. Chừng nào cướp biển tại Chiết Giang còn chưa dẹp tan, cõi Đông Nam còn chưa yên ổn, thì ta quyết không hồi kinh. Đầu hàng ư? Thử hỏi mãn triều văn võ sao có thể cùng lữ hải tặc ngoài biển khơi kia đứng chung một điện, làm bậc đồng liêu cho được?”
(Quân lệnh trạng: lời cam kết bằng tính mạng.)
Lý Lương Chi vốn là võ quan, chẳng am hiểu những chuyện chính trị lắt léo ấy, lập tức quỵ một gối: “Hạ quan nhất định không phụ ơn đức bồi dưỡng và đề bạt của đại nhân!”
Trong sân, từng khóm mẫu đơn đang đua nhau nở rộ đầy sức sống. Lý Lương Chi hái một đóa rồi cảm thán: “Tầm này mà vẫn còn mẫu đơn nở rực rỡ thế này, xem ra lời đồn về sự phú quý của đám thương nhân muối Dương Châu quả thực không phải hư danh.”
Hôm nay Lục Trạch dẫn Lý Lương Chi tới đây, vốn đã coi nàng ta như người tâm phúc. Lời này nghe qua có chút châm chọc, Tống Nhân cũng chỉ đành cười gượng hai tiếng: “Lý đại nhân quá khen rồi. Nếu ngài đã thích, hôm khác tại hạ xin được gửi vài gốc mẫu đơn đến phủ của ngài.”
Công sự đàm đạo đã xong, bức bình phong liền được quân hầu di dời sang bên. Phía sau lớp màn lụa mỏng, tiếng cầm tiêu thanh thoát và lanh lảnh vang lên.
Tống Nhân vốn là kẻ thấu hiểu sự đời, lập tức đưa mắt ra hiệu, mời Lý Lương Chi cùng thoái lui ra ngoài. Vừa bước chân ra khỏi cửa, hắn ta đã chắp tay chúc mừng: “Lý đại nhân, hôm nay được diện kiến Đốc hiến, ngày sau tiền đồ xán lạn, thăng quan tiến chức hẳn là chuyện sớm chiều.”
Trong sân, từng khóm mẫu đơn đang đua nhau nở rộ đầy sức sống. Lý Lương Chi hái một đóa rồi cảm thán: “Tầm này mà vẫn còn mẫu đơn nở rực rỡ thế này, xem ra lời đồn về sự phú quý của đám thương nhân muối Dương Châu quả thực không phải hư danh.”
Hôm nay Lục Trạch dẫn Lý Lương Chi tới đây, vốn đã xem nàng ta như người tâm phúc. Lời này nghe qua tuy có chút châm chọc, Tống Nhân cũng chỉ đành cười gượng hai tiếng: “Lý đại nhân quá khen rồi. Nếu ngài đã thích, hôm khác tại hạ xin được gửi vài gốc mẫu đơn đến phủ của ngài.”
Lý Lương Chi ném đóa hoa xuống đất, rồi cười nhạt: “Không cần đâu, người như ta e là chẳng nuôi nổi loại hoa lá kiêu kỳ và quý phái này.” Nói xong, nàng liền sải bước rời đi.
Tống Nhân thấy vậy liền lắc đầu ngán ngẩm: “Thế này mà cũng coi là nữ nhân sao? Cũng may là chồng nàng ta chết sớm, chứ nếu còn sống mà có hạng phu nhân thế này, e là cũng chẳng còn mặt mũi nào để nhìn ai.”
Lý Lương Chi vừa bước ra khỏi cửa, đã có thân binh dắt ngựa chờ sẵn. Người đó tiến lên đón: “Tướng quân, Đốc hiến đại nhân nói sao ạ?”
Lý Lương Chi tung người lên ngựa, nói: “Ta nghe ngài ấy hỏi chuyện liền biết người này nhất định am hiểu binh pháp, khác hẳn với hạng văn quan ngoại đạo kia. Ngài ấy đồng ý cho ta đến Nghĩa Ô chiêu mộ binh sĩ, quân số ba ngàn người cũng đã gật đầu. Chỉ có điều, gã thương nhân muối Dương Châu ngồi cùng kia trông cứ như phường thái giám, thật đúng là xúi quẩy.”
Bên trong phòng, một khúc nhạc vừa dứt, Lục Trạch vỗ tay tán thưởng: “Tiếng đàn của Oản Oản lại tiến bộ thêm nhiều rồi.”
Tô Oản Oản khoác trên mình bộ hỷ phục đỏ rực, đầu đội phượng quan hà bí, ngồi sau lớp lụa xanh mà chẳng hề đứng dậy: “Đại nhân thích là tốt rồi, tiếng đàn của Oản Oản xem như không uổng công luyện tập. Ngài từng nói, nếu Oản Oản giải được bàn cờ tàn kia thì sẽ rước Oản Oản về dinh, không biết lời ấy giờ có còn hiệu lực chăng? Thiếp biết, thân phận hoa trôi phiêu dạt chốn phong trần như thiếp vốn không xứng được cưới hỏi đàng hoàng, dù chỉ là theo bên cạnh làm kẻ hầu người hạ cho đại nhân, thì thiếp cũng cam lòng.”
Tiếng nói vừa dứt, bức rèm lụa xanh được vén lên, trên tường đang treo chính là bàn cờ tàn đã được hóa giải kia.
Lục Trạch có chút thẫn thờ, dường như bên tai lại vang lên một giọng nói khác: “Ngài xem, người muốn làm nha hoàn cho ngài nhiều đến thế, hà tất còn khổ công tìm ta làm chi?”
Hắn thậm chí chẳng thèm liếc mắt nhìn một cái, chỉ nhíu mày nói: “Ta nhìn muội lớn lên từ nhỏ, trong mắt ta muội vẫn chỉ là một tiểu cô nương mà thôi. Lời của đại sư Tĩnh Hải năm đó chẳng qua cũng chỉ là một câu nói đùa. Đợi muội lớn thêm chút nữa, ta tự khắc sẽ tìm cho muội một tấm chồng tốt.”
Tô Oản Oản nghe vậy liền ai oán thốt lên: “Tiểu cô nương sao? Ha ha… Đại nhân lẽ nào không biết rằng, tiểu cô nương của vị ân sư năm xưa của ngài, nay đã nức tiếng phong trần, khách ra vào trướng rủ màn che chẳng thiếu kẻ nào.”
Lục Trạch cảm thấy mất hết hứng thú, hắn đứng phắt dậy: “Nếu muội muốn lấy chồng, ta sẽ tìm cho một tấm phu quân tử tế. Còn nếu không muốn gả đi, cứ ở lại Tống gia này dưỡng già cũng được. Duy chỉ có chuyện vào phủ của ta, đó là điều vạn lần không thể.”
Tô Oản Oản thấy hắn định bỏ đi thì không còn màng đến gì nữa, nàng ta lảo đảo đuổi theo, đôi mắt nhòe lệ: “Tại sao? Đại nhân chê thân xác này của thiếp đã không còn sạch sẽ nữa rồi sao?”
Lục Trạch lắc đầu: “Muội chớ có suy nghĩ lung tung.”
Tô Oản Oản lùi lại một bước, rồi cười khổ nói: “Thiếp biết rồi, là vì thiếp là con gái của ân sư đại nhân, đúng không? Gia đình bị tịch thu tài sản, tru di tam tộc, bản thân bị đày vào giáo phường ti… Đại nhân chịu đứng ra xoay xở, giúp thiếp đổi tên đổi họ để cứu ra khỏi nơi nhơ nhuốc đó, tất cả đều là vì ân tình với người cha quá cố của thiếp, có phải không?”
Lục Trạch gạt tay nàng ta ra, không hề đáp lại mà sải bước rời đi. Lên đến xe ngựa, Đinh Vị đứng bên cạnh bẩm báo: “Thưa gia, đã đến nhà họ Chu kia rồi, nhưng không thấy Bằng Nhi cô nương đâu cả. Chỉ là đã hỏi thăm hàng xóm láng giềng xung quanh, nhà họ Chu đúng là có hai vị cô nương, một người là con gái góa bụa, một người là cô nương chạy nạn được họ nhận nuôi. Gia đình này quả thực từng nhận ơn huệ của Bằng Nhi cô nương, nhưng đó đã là chuyện từ nhiều năm trước rồi, Bằng Nhi cô nương không hề đến nương nhờ họ.”
Lục Trạch ngả người dựa vào thành xe ngựa, đưa tay day day tâm mi: “Đứa con gái góa bụa kia bao nhiêu tuổi? Còn cô nương chạy nạn kia bao nhiêu tuổi?”
Đinh Vị hít sâu một hơi khí lạnh, sực nhớ lại vẻ mặt ấp úng và ngập ngừng của bà tử kia, liền đáp: “Là thuộc hạ sơ suất, sẽ lập tức đi dò hỏi ngay đây ạ.”
Lục Tế trở về hành viên, vừa tắm rửa xong thì thấy Đinh Vị quay về báo cáo: “Thưa gia, thuộc hạ đã dò hỏi hàng xóm xung quanh, sau đó lại đến huyện nha để tra cứu hộ tịch. Đứa con gái góa bụa của nhà này mới trở về từ ba tháng trước, tuổi tác tự khai là hai mươi lăm, nhưng hàng xóm láng giềng lại bảo trông chỉ tầm mười bảy mười tám tuổi, giọng nói cũng không phải khẩu âm địa phương. Thuộc hạ có nói vài câu quan thoại vùng Nam Kinh, thì người hàng xóm đó khẳng định ngay, cô con gái góa kia chính là nói giọng như vậy.”
Lục Trạch lập tức sầm mặt lại: “Sao không đưa người về đây?”
Đinh Vị cúi đầu bẩm báo: “Nghe nói cả nhà họ, ngoại trừ một bà tử ở lại trông nhà, thì tất cả đã đi đến thư viện Vạn Tùng ở Hàng Châu rồi ạ. Ở đó đang có Ôn Lăng tiên sinh giảng bài.”
Lục Trạch hừ lạnh một tiếng: “Chắc chắn là nha đầu đó rồi. Ngươi để người lại đây canh chừng gia đình kia, ta sẽ đi thuyền về Hàng Châu đợi sẵn.”
Đinh Vị lĩnh mệnh, vừa đi đến cửa thì lại bị Lục Trạch gọi giật lại: “Khi nào thấy nàng, chớ có kinh động, cứ âm thầm theo sát rồi báo lại cho ta là được. Ngoài ra, hãy truyền thư bằng bồ câu cho Giang tiểu hầu, bảo thuộc hạ các nơi rút về hết đi, không cần phải đi dò hỏi ở những chỗ khác nữa.”
Nói xong, hắn dường như chẳng thể đợi thêm được nữa, lập tức hạ lệnh chuẩn bị thuyền bè, xuôi dòng đi về hướng Hàng Châu.
Lại nói về phía Tần Thư, vì lo ngại ban đêm đường xá không yên ổn, nàng chỉ dám lên đường vào ban ngày, đêm đến lại tìm quán trọ nghỉ ngơi. Cứ thế đi liên tục suốt tám, chín ngày trời mới đến được thành Hàng Châu.
Khi vào đến đại lộ dẫn vào thành thì trời đã gần hoàng hôn. Gã phu xe không ngớt lời cảm thán: “Chúng ta đúng là may mắn, nếu chậm trễ chút nữa mà cửa thành đóng lại thì có khi phải ngủ tạm một đêm trên xe ngựa rồi.”
Ba người nhóm Tần Thư suốt tám, chín ngày liền cứ co cụm trong chiếc xe ngựa nhỏ hẹp này, chưa nói đến chuyện lưng đau chân mỏi, ngay cả cơm nước cũng chẳng được bữa nào tử tế.
Vào đến thành Hàng Châu, họ chọn một khách đ**m sạch sẽ và rộng rãi để nghỉ chân. Sau khi mọi người đã tắm gội kỹ càng và dùng bữa xong xuôi, thì ai nấy đều leo lên giường đánh một giấc say nồng.
Tần Thư không hề hay biết rằng, ngay khi nàng vừa đặt chân vào thành, thì tin tức đã lập tức được báo về phủ Tổng đốc.
Lúc Đinh Vị bước vào, Lục Trạch đang tiếp kiến các thủ tướng vùng Ninh Ba và Đài Châu. Y đứng đợi ở một bên hơn nửa canh giờ, thấy mọi người đã ra về hết mới tiến lên bẩm báo: “Thưa gia, Bằng Nhi cô nương đã vào thành lúc hoàng hôn, đoàn người tổng cộng có bốn người, hiện đang ở khách đ**m Đại Đồng ạ.”
Đinh Vị cúi đầu đợi hồi lâu mà vẫn không thấy Lục Trạch hạ lệnh, bèn ướm lời hỏi: “Thưa gia, có cần thuộc hạ dẫn người đi đón Bằng Nhi cô nương về không ạ?”
Lục Trạch gập ngón tay gõ nhẹ xuống bàn làm việc, rồi cười khẩy một tiếng: “Nàng ấy không giống với hạng người như các ngươi, vốn chẳng thèm coi cái phủ này ra gì đâu, đón về làm cái gì?”
Đinh Vị bị câu nói này làm cho cứng họng, trong lòng thầm oán trách: Đã không định đón người ta về phủ, vậy ngài còn ra lệnh rà soát khắp các ngõ ngách của Quốc công phủ làm chi? Hễ là ai có chút quan hệ với Bằng Nhi cô nương đều bị điều tra đến tận gốc rễ, thậm chí nơi xa xôi như Vân Nam cũng đã phái người tới tận nơi rồi.
Chỉ là y không đời nào dám nói thẳng ra như vậy, y thừa hiểu gia nhà mình là người cực kỳ trọng thể diện, nên không thể không nói vài lời tạo bậc thang cho chủ nhân bước xuống: “Gia, hôm nay lúc ở cổng thành thuộc hạ có nhìn thấy Bằng Nhi cô nương, thấy cô ấy gầy đi nhiều lắm. Vốn dĩ cô ấy đã vừa trải qua một trận bạo bệnh, xem chừng cuộc sống bên ngoài cực khổ vô cùng. Nếu lúc này mà thấy gia chịu đón cô ấy về, chắc chắn cô ấy sẽ cảm kích ân đức của ngài lắm.”
Lục Trạch lạnh lùng cười nhạt hai tiếng: “Nàng ấy là hạng người có tâm tính cô độc, lại lạnh lùng, nếu mà nghĩ được như thế thì mới là chuyện lạ đấy.”
Đinh Vị nói ra được ngần ấy lời coi như đã dốc hết sức lực rồi, chẳng còn hơi sức đâu mà khuyên giải thêm nữa, bèn đứng đợi một bên. Một lát sau, thấy Lục Trạch quăng mạnh cái chén về phía mình: “Ngươi đứng lù lù ở đây làm gì? Vừa rồi thay nàng ấy nói đỡ thì giỏi lắm kia mà, sao giờ lại câm như hến rồi?”
Đinh Vị ngơ ngác chẳng hiểu ra làm sao, không biết nên nói gì cho phải. May thay bên ngoài có Dương sư gia đi vào bẩm báo, thấy chén trà vỡ tan dưới đất liền nói đỡ: “Thế tử, khách quý từ ngoài khơi đã gửi thư đến rồi đấy.”
Đây là chính sự, Lục Trạch phất tay ra hiệu cho Đinh Vị lui ra ngoài.
Đinh Vị mang theo một bụng thắc mắc nhưng cũng không dám đi xa, chỉ đứng đợi ngoài hành lang rồi thầm nghĩ: Vì chuyện của Bằng Nhi cô nương mà mình đã chịu không biết bao nhiêu trận “vạ lây”. Trong những việc khác Gia vốn dĩ thưởng phạt phân minh, sao riêng chuyện này lại cứ hay giận cá chém thớt thế nhỉ? Chao ôi, chỉ trách bản thân đen đủi, sao lại nhận cái việc theo chân Gia về Nam Kinh cơ chứ?
Trong thư phòng bàn bạc mãi đến tận nửa đêm mới thấy Dương sư gia bước ra. Ông ấy đã ngoài sáu mươi, là kiểu người thuộc nhóm văn sĩ Giang Nam điển hình, vốn có chút kiêu ngạo vì tài năng, chí hướng cả đời là trừ sạch giặc Oa nên đã đầu quân vào mạc phủ của Lục Trạch. Giờ đây đã già, tính khí cũng điềm đạm hơn nhiều, thấy Đinh Vị vẫn còn đứng đó, ông ấy vuốt râu rồi cười nói: “Đinh hộ vệ, lúc nãy ngươi đã báo cáo chuyện gì mà khiến đại nhân nổi trận lôi đình thế kia?”
Loại chuyện riêng tư chốn nội khuê của nữ quyến thế này, Đinh Vị đâu có gan lớn mà đi rêu rao khắp nơi, y lắc đầu đáp: “Dù sao cũng là do thuộc hạ làm việc chưa chu toàn thôi ạ.”
Dương sư gia lại lắc đầu: “Ngươi không nói thì để lão đoán thử xem sao? Lão đây vốn là hạng môn sinh không lo chính sự, nhưng lại có chút bản lĩnh xem tướng mạo. Theo lão thấy, chuyện này có liên quan đến đường nhân duyên của Thế tử rồi.”
Ngay khi ông ấy vừa dứt lời, Đinh Vị liền lộ rõ vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt. Y chợt phản ứng lại: “Dương tiên sinh, ông lừa tôi đấy à?”
Dương sư gia lại lắc đầu, rồi cười nói: “Sai rồi, sai rồi. Lão còn dám quyết đoán rằng đây chính là chính duyên của Thế tử nữa cơ.”
Chính duyên? Chẳng lẽ nói Bằng Nhi cô nương sau này sẽ là chính thất phu nhân của Gia sao? Đinh Vị lắc đầu lia lịa, chuyện này làm sao có thể xảy ra được. Bằng Nhi cô nương tuy rằng xinh đẹp thật đấy, nhưng với thân phận đó, lại còn xuất thân là tì nữ, làm sao có thể gả cho gia để làm đích phu nhân cơ chứ?
Phu nhân của gia sau này sẽ là Nhất phẩm Cáo mệnh của Quốc công phủ, sao có thể để một người xuất thân tì nữ nhận sắc phong Nhất phẩm Cáo mệnh cho được?
Dương sư gia mỉm cười, gập quạt lại rồi gõ nhẹ lên đầu Đinh Vị: “Lão đây nói chắc chắn không sai đâu, nếu sai thì ngươi cứ đến chỗ lão mà lĩnh rượu ngon đi.”
Đinh Vị xoa xoa đầu, nhìn bóng dáng Dương sư gia đã đi xa thì mới sực tỉnh ra. Cái gì mà “nói chắc chắn không sai”, ngộ nhỡ sau này gia lấy người khác thì cũng đâu có nghĩa là sẽ không lấy Bằng Nhi cô nương? Chỉ cần Bằng Nhi cô nương còn sống đủ lâu, một ngày cô ấy chưa gả cho người khác thì chẳng phải Dương sư gia sẽ không bao giờ bị coi là nói sai hay sao?
Ngẫm nghĩ một hồi lâu, y mới nhận ra mình đã bị lừa phỉnh, bèn nghiến răng lẩm bẩm: “Mấy ông nhà nho này đúng là lắm mưu mô xảo quyệt thật.”
Lục Trạch ngồi thẫn thờ hồi lâu, lấy địch báo ra xem nhưng chẳng vào đầu được chữ nào. Hắn dứt khoát vứt sang một bên, đang định mở cửa đi ra ngoài thì thấy bộ y phục trên người mình quá nổi bật, bèn đi tới tủ quần áo chọn một chiếc áo choàng màu xanh không có hoạ tiết, rồi lại tìm thêm một dải thắt lưng bằng vải bình thường, trông chẳng khác nào cách ăn vận của một sĩ tử tầm thường.
Vừa bước ra khỏi cửa, hắn đã nghe thấy Đinh Vị lẩm bẩm cái gì mà “mấy ông nhà nho đúng là lắm mưu mô xảo quyệt”, liền lạnh giọng hỏi: “Ngươi vừa nói cái gì cơ?”
Đinh Vị đương nhiên không đời nào dám lặp lại lời đó lần nữa. Ngước mắt lên thấy cách ăn vận này của Lục Trạch, cơ mặt y vô thức giật giật, lộ ra một biểu cảm vô cùng quái dị: “Thuộc hạ vừa rồi chỉ đang tán gẫu vài câu với Dương tiên sinh thôi ạ.”
Lục Trạch hất cằm về phía trước, ra lệnh: “Dẫn đường.”
Hai chữ “dẫn đường” này, dĩ nhiên là chỉ con đường dẫn đến khách đ**m Đại Đồng. Đinh Vị cứ ngỡ là gia nhà mình đêm nay nhất định sẽ không đi rồi, không ngờ chỉ là đợi đến muộn một chút mới đi mà thôi.