Chương Vọng Sinh bận rộn tối ngày sau khi trở về tỉnh lỵ. Anh vừa phải làm báo cáo cho đơn vị, vừa tranh thủ ghé bưu điện gửi ít thuốc về nhà chú sáu Mã ở Nguyệt Hòe Thụ. Chiếc xe đạp cũ kỹ hiệu Phượng Hoàng của anh vốn đã rệu rã, bao năm dầm mưa dãi nắng, gánh vác bao hơi sức nhưng anh vẫn chẳng hề có ý định đổi mới. Trước cổng bưu điện có một bé gái tết hai bím tóc, thắt nơ bướm đỏ rực, anh cứ thế đứng nhìn cô bé ấy một hồi lâu, gương mặt không giấu nổi nụ cười rạng rỡ.
Anh đã để lại số điện thoại văn phòng làm việc cho Nam Bắc. Thời gian đầu, hễ chuông reo là tim Chương Vọng Sinh lại đập thình thịch, hoặc ngày nào anh cũng hỏi bảo vệ xem có thư gửi cho mình không. Khoảng chừng một tháng sau, anh quyết định tới Bắc Kinh một chuyến nữa.
Lẽ dĩ nhiên là chẳng tìm thấy người. Chương Vọng Sinh hỏi thăm khắp nơi mới biết tin cô đã ra nước ngoài. Đó là chuyện đã định từ lâu, nhưng anh hoàn toàn không hay biết, xem chừng cô cũng không có ý định nói với anh. Chương Vọng Sinh lại lên tàu hỏa ra về trong trạng thái hồn xiêu phách lạc. Một gã đàn ông đã ba mươi tuổi đầu, song vẫn vì tình yêu mà điên đảo, lặn lội ngàn dặm đi tìm một cô gái, nói ra chắc người ta cười cho bẽ mặt. Anh cảm thấy kết cục này dường như mình đã biết trước từ lâu, chuyến đi này chẳng qua là để xác nhận lại một lần nữa mà thôi.
Lòng anh đau như cắt, nỗi đau thấu cả tâm can. Xuống xe trong trạng thái thẫn thờ, anh về ký túc xá ngủ liền hai ngày. Bên ngoài trời mưa tầm tã, chẳng phân biệt nổi thời gian, trông ra lúc nào cũng như buổi hoàng hôn. Khi thức dậy, đầu óc anh mơ màng một lúc, cảm thấy vô cùng trống trải và cô độc. Cảm giác ấy giống như một mình bị bỏ lại trên hòn đảo mênh mông, mưa phùn dầm dề, chẳng ai quen biết mình và mình cũng chẳng quen biết ai, trời đất bao la chỉ độc một mình mình.
Bên ngoài vang lên tiếng trò chuyện của những hộ dân khác, rồi có tiếng gõ cửa: “Tiểu Chương có nhà không? Anh cả cậu đến này!”
Chương Vọng Sinh ngồi dậy bật đèn rồi đi ra mở cửa. Anh cả Chương Vọng Hải đang cầm ô, vai áo đã bị mưa hắt ướt sũng. Ông bước vào nhà thu ô lại, nói: “Anh đến đơn vị tìm em, người ta bảo em xin nghỉ phép, sao ban ngày ban mặt lại ở nhà ngủ thế?”
Gương mặt Chương Vọng Sinh lộ rõ vẻ tiều tụy, anh bảo anh cả vào nhà thay bộ quần áo khác.
“Ốm à?” Chương Vọng Hải sờ trán em trai, cử chỉ ân cần như chăm sóc con trai mình, rồi lại tìm nhiệt kế bắt anh đo thân nhiệt.
Chương Vọng Hải mở xưởng sản xuất săm lốp cao su ở tỉnh, thường xuyên về nước. Mỗi lần về, ông đều ở cùng Chương Vọng Sinh. Hai anh em trò chuyện, ra vườn hái rau, nấu cơm, dường như có bao nhiêu chuyện nói mãi cũng không hết.
Chương Vọng Sinh nói: “Em hơi mệt trong người chút thôi, nghỉ ngơi chút là khỏe.”
Chương Vọng Hải bèn thay ủng, ra vườn hái rau xanh chuẩn bị nấu mì. Chương Vọng Sinh ngồi bên mép giường, ánh mắt có chút đờ đẫn. Qua khung cửa sổ, anh thấy anh cả lom khom hái rau, lúc đứng thẳng dậy thì hơi loạng choạng, chân sau bị lún xuống bùn, lòng anh chợt nhớ lại cảm xúc lần đầu tiên gặp lại ông.
Anh và anh cả gặp lại nhau vào mùa đông năm 1978. Khi ấy, Chương Vọng Hải mặc com lê chỉnh tề, tay xách vali đi tới công xã Nguyệt Hoè Thụ để hỏi thăm về nhà họ Chương. Xã viên chưa bao giờ thấy ai có vẻ ngoài sang trọng như thế, ai nấy đều đứng bên đường nhìn ngó. Chương Vọng Hải lúc đó đã bước vào độ tuổi trung niên nhưng giọng quê vẫn không đổi, vừa nghe thấy khẩu âm của mọi người là nước mắt ông đã rơi lã chã, ông lấy kẹo sô cô la ra chia cho lũ trẻ đang vây quanh. Xã viên hỏi có phải ông từ Đài Loan về không, ông bảo không phải, ông từ Singapore quay về. Những người xã viên chỉ ồ ồ cho qua chuyện chứ cũng chẳng biết viết mặt chữ Singapore ra sao, chắc cũng không phải tên một công xã nào đó.
Sau đó, có người dẫn ông đến nhà họ Chương. Trên đường đi, người nọ kể cho ông nghe rằng nhà họ Chương chẳng còn ai cả, chỉ sót lại mỗi Chương Vọng Sinh vừa mới được minh oan*. Chương Vọng Hải hỏi minh oan là gì, xã viên đáp là bỏ đi cái danh phần tử xấu cho cậu ấy đấy.
*Ở đây dùng từ (摘帽) nghĩa đen là tháo mũ, nhưng thực chất mang ý nghĩa là minh oan cho nhiều người từng bị quy sai thành phần chính trị trong quá khứ. Đối lập với tháo mũ là đội mũ (戴帽子), là khi một người bị gắn lên mình nhãn chí trị/giai cấp. Họ bị kỳ thị xã hội, mất quyền lợi, khó học hành/thăng tiến, có thể bị phê đấu hoặc lao động cải tạo. Sau năm 1978 dưới thời Đặng Tiểu Bình Chính quyền bắt đầu minh oan và phục hồi danh dự cho nhiều người từng bị quy sai thành phần chính trị.
Khi Chương Vọng Hải theo bác lên Thượng Hải ăn học, người em thứ hai còn chưa chào đời. Đến năm ông rời bỏ đại lục hoàn toàn, Chương Vọng Triều mới chỉ là một đứa trẻ hai ba tuổi. Là anh cả, ông từng bế cậu em ấy trong khu viện của nhà họ Chương, nhìn mẹ thay cho em đôi giày đầu hổ mới khâu, thêu thùa vô cùng tinh xảo.
Đứa em nhỏ đi giày đầu hổ ấy cùng với mẹ và cha đều đã không còn nữa. Chương Vọng Hải không biết về người em thứ ba, cũng không biết về Tiểu Trú. Khi đến nhà họ Chương, ông nói: “Đây không phải nhà tôi.”
Người xã viên đáp: “Sao lại không phải, đây chính là nhà của Chương Vọng Sinh mà.” Ngôi nhà trong ký ức của ông là một khu viện lớn cơ mà.
Trong căn nhà vách đất thắp một ngọn đèn dầu, dưới ánh đèn là một Chương Vọng Sinh gầy gò ốm yếu chỉ còn da bọc xương. Chú sáu Mã vừa cho anh ăn xong bát cháo loãng rồi ra về. Đứng trước gian nhà chính tối om như một cái hố đen, Chương Vọng Hải hỏi: “Là Vọng Sinh phải không?”
Chương Vọng Sinh chưa từng gặp anh cả. Người thân của anh đã lần lượt rời xa, anh nằm một mình trên chiếc giường với đôi mắt u uất, sức cùng lực kiệt.
Hai anh em nhận nhau, ai nấy đều khóc nức nở. Vốn dĩ Chương Vọng Sinh chưa từng thấy anh cả, nhưng anh biết chắc chắn đây là anh mình, anh vẫn còn người thân. Anh cả trở về, Chương Vọng Sinh anh sẽ không còn là một hồn ma cô độc nữa, sẽ có người yêu thương, che chở cho anh. Đây là máu mủ, là thứ không thể cắt rời.
Chương Vọng Sinh lúc đó ốm rất nặng, ở Nguyệt Hòe Thụ người ta đồn anh sắp đi theo con đường của Chương Vọng Triều. Anh có nghe thấy nhưng không cảm thấy sợ hãi, anh đã chẳng còn sợ cái chết nữa rồi. Nếu có thể gặp lại song thân và anh hai, chết thì cứ chết thôi, anh sẽ không còn cô độc nữa, anh sắp được gặp người thân rồi. Nhà họ Chương sẽ chẳng còn ai sống sót, sẽ hoàn toàn biến mất khỏi Nguyệt Hòe Thụ, chẳng còn ai nhớ đến, trở thành những người đã khuất trong câu chuyện của kẻ khác, đến một người cúng bái tiết Thanh minh cũng chẳng có, mộ phần cỏ dại mọc đầy, người ta đi qua cũng không biết nằm dưới đó là ai. Điều đó cũng chẳng sao cả, kết cục của những kẻ vô danh phàm trần vốn dĩ đều như vậy, mọi yêu hận buồn vui rồi sẽ mãi mãi chôn vùi cùng xương trắng.
Nhưng ai mà ngờ được, anh cả vẫn còn sống, dẫu trong lời kể của người dân ở Nguyệt Hòe Thụ, ông đã chết từ lâu. Ông từ Singapore tới, năm xưa theo người bác sang Nam Dương, từng nếm mật nằm gai một thời gian rồi mới khấm khá lên. Ông và bác lúc nào cũng nhớ về mảnh đất Trung Hoa cổ kính, nhớ về cây nguyệt hòe già ở Nguyệt Hòe Thụ, nhưng thời thế quá loạn lạc, loạn như những cơn mưa Nam Dương cứ tầm tã không dứt. Quê hương của họ nào có nhiều mưa đến thế, Malaysia thì ẩm ướt, rồi sau đó họ lại trở thành người Singapore. Trước lúc lâm chung, người bác dặn: “Nếu cháu có thể về nhà, hãy mang cho bác một nắm đất quê hương, vậy là bác mãn nguyện rồi.” Chương Vọng Hải đáp: “Được mà, chắc chắn chúng ta đều sẽ được về nhà.” Người bác trút hơi thở cuối cùng trong khi hát bài dân ca:
“Trăng treo cao giữa trời xa,
Ánh vàng soi tỏ muôn nhà bốn phương.
Trong đêm tĩnh lặng mênh mang,
Cố hương chợt hiện ngập tràn nhớ thương.” — Tít dịch thơ.
Hát xong, ông thốt lên một câu: Trăng ở Nguyệt Hòe Thụ lên rồi kìa, thế rồi rồi ông qua đời.
Chương Vọng Hải mang một nửa tro cốt của bác về, ông khóc như một đứa trẻ. Thời trẻ ra đi khi già trở lại, ông chạy ra nghĩa địa dập đầu trước mộ cha mẹ. Cậu em thứ hai từng đi giày đầu hổ giờ nằm cạnh cha và mẹ, trái tim ông như bị xé toạc ra vậy.
Nhà họ Chương chật kín người, ai nấy đều kéo đến xem Chương Vọng Hải, người vốn đã chết trong miệng thế gian từ lâu. Tóc ông chải sáp, trông mới oai phong làm sao! Chiếc áo khoác, khăn quàng cổ, đôi giày da bóng loáng, chao ôi, thật là đẳng cấp! Các xã viên vô cùng nhiệt tình, niềm nở, ai cũng muốn nhân dịp này mà bắt quàng làm họ với nhà họ Chương.
Người ở Nguyệt Hòe Thụ bảo, lần này Chương Vọng Sinh chắc chắn là không chết được rồi. Đúng thật, thấy anh cả, anh giống như một con thú nhỏ lạc đường không ngừng r*n r* trước mặt ông. Nỗi đau thấu xương thấu tủy đều hóa thành nước mắt, thấm đẫm vạt áo trước của Chương Vọng Hải, nước mắt ông cũng tuôn trào đầy mặt.
Chương Vọng Sinh bỗng chốc có được niềm an ủi mới. Anh cả lớn hơn anh nhiều tuổi, vừa là anh vừa là cha. Anh bỗng chốc tìm lại được hình bóng của cha và anh hai, anh có thêm sức sống mới, thật tốt quá. Những đắng cay, nhục nhã anh từng chịu đựng giờ đã lùi xa, vết thương trong lòng được chữa lành. Thời gian đó anh không rời anh cả nửa bước.
Chương Vọng Hải thương anh như thương con, ông đưa anh đi chữa bệnh, may quần áo mới, đưa anh đi thi cử. Ông bảo: “Từ nay về sau em không phải lo chuyện tiền nong nữa, anh cả kiếm được tiền rồi, rất nhiều.” Nói đoạn, cả hai anh em lại nghĩ đến những người thân đã nằm dưới mộ sâu. Dẫu có nhiều tiền hơn nữa, ngày rộng tháng dài hơn nữa, thì cũng chẳng còn liên quan gì đến họ nữa rồi. Hai người lại không kìm được mà cùng nhau rơi nước mắt.
“Mưa thế này trong nhà ẩm thấp quá, ở Malaysia thì ẩm ướt quanh năm suốt tháng.” Chương Vọng Hải vừa rửa rau vừa nói.
Chương Vọng Sinh thay than tổ ong xong, cầm tờ báo địa phương mà anh cả mang tới lên xem. Thấy có hình minh họa một con vật, anh hỏi anh cả: “Đây là con gì thế anh?”
Chương Vọng Hải đáp: “Đây là con heo vòi Mã Lai. Hồi trước bên đó người ta bảo nó sống nhờ ăn giấc mơ của người khác, thực ra nó chỉ là một loài động vật sống trong rừng nhiệt đới thôi.”
Chương Vọng Sinh mỉm cười: “Nếu có thật thì tốt quá, mời nó đến ăn sạch những cơn ác mộng đi.”
Hai người nói về rừng nhiệt đới, về phong tục ở Malaysia, thực sự là hai thế giới hoàn toàn khác biệt với Nguyệt Hòe Thụ. Nhưng giờ đây, thế giới đã bắt đầu chuyển động, Chương Vọng Sinh hiểu thêm nhiều chuyện về Đông Nam Á. Singapore phát triển rất nhanh, kinh tế rất phồn thịnh, không biết người ta đã làm cách nào.
Chương Vọng Hải có thể nói tiếng Anh lưu loát, điều này giúp ích rất nhiều cho việc kinh doanh của ông. Ông khuyên em trai vẫn nên học tốt tiếng Anh để thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu nước ngoài.
Chương Vọng Sinh hỏi: “Singapore có nhiều người Hoa thế, họ còn nói tiếng Hán không anh?”
Chương Vọng Hải dùng đũa đảo mì, nghiêng mặt sang một bên để tránh hơi nóng bốc lên.
“Nhiều người không biết nói nữa rồi. Nhưng từ năm 79, chính phủ bắt đầu đẩy mạnh chiến dịch nói tiếng Hoa. Dẫu có nói thế nào đi nữa, đa số họ cũng chẳng còn thấy mình là người Trung Quốc nữa đâu.”
Chương Vọng Sinh im lặng.
“Còn anh thì sao?”
Chương Vọng Hải thở dài: “Anh sống hơn nửa đời người rồi, hồi mới sang Nam Dương, bác luôn nhắc nhở anh phải nhớ kỹ thân phận người Trung Quốc của mình, anh cũng từng nghĩ như vậy. Sau này thấy việc về quê nhà chẳng còn hy vọng gì nữa, anh lập gia đình, nói tiếng Mã Lai, nói tiếng Anh với người ta, dần dà cũng chẳng biết mình là người phương nào nữa. Giờ bảo anh định cư ở đây thì không thể nào rồi. Nhưng anh thấy mình vẫn có thể làm được gì đó, giờ thời thế tốt rồi, tràn ngập hứa hẹn.”
Nét mặt Chương Vọng Sinh u uất. Con người khi ở một nơi quá lâu, tập quán, ngôn ngữ, văn hóa đều thay đổi, dần dần quả thực sẽ quên mất lối về. Một thế hệ không muốn lãng quên, nhưng đến thế hệ thứ hai, thứ ba, cuối cùng rồi cũng sẽ quên sạch.
Chương Vọng Hải vui vẻ nói: “Malaysia có câu tục ngữ: Đại dương nơi nào mà chẳng có sóng, đất mẹ nơi mà nào chẳng gặp mưa. Đời người chính là như vậy, luôn có sóng gió dập dìu, vượt qua được thì sẽ thấy biển rộng trời cao. Anh còn có thể gặp lại em, còn có thể đóng góp chút gì đó cho đại lục, thật đúng là trời cao thương xót anh.”
Chương Vọng Sinh bày chiếc bàn ăn nhỏ, lấy ít tương ớt ra ăn cùng mì trứng rau xanh. Chương Vọng Hải lại bảo, nhớ hồi nhỏ có món củ cải muối ngon tuyệt, cho thêm ít ớt, dầu mè, đúng là mỹ vị nhân gian. Những thứ đó vốn dĩ chẳng bao giờ thiếu, ai mà ngờ được sau này lại nghèo túng, đói kém đến thế, lại còn bao nhiêu cuộc đấu tranh nữa.
Chương Vọng Sinh không thích bàn chuyện chính trị, nhắc đến những chuyện mười mấy năm qua, anh không kích động như những người khác, chỉ nói với anh cả rằng: “Thời thế không do mình, phần lớn mọi người đều chẳng biết mình đang làm gì. Những năm được mùa thì có thể làm người tốt, đến lúc sắp chết đói rồi thì khó mà giữ mình để mà làm người tốt được.”
Anh hỏi một vài chuyện về du học. Singapore rất hiện đại, rất lôi cuốn. Chương Vọng Hải cứ ngỡ anh muốn tìm hiểu chuyện ở Singapore, lại thấy xót xa vì Chương Vọng Sinh không được học đại học, suốt ngày vẫn phải giao thiệp với nông thôn, cả năm trời thì có tới một nửa thời gian là đi khảo sát, nghiên cứu ở dưới quê.
Họ lại bàn luận nhiều chuyện về cải cách. Trời mưa không dứt nên cũng chẳng thể đi dạo, đành ngồi trên ghế sofa trò chuyện. Chương Vọng Hải thấy mệt nên đi ngủ trước. Lưng ông không được tốt nên phải nằm giường cứng, Chương Vọng Sinh đặc biệt đóng cho ông một chiếc giường gỗ, quét sơn dầu, chỉ trải một lớp nệm mỏng.
Tiếng mưa đập vào cửa sổ. Chương Vọng Sinh ngồi bên bàn học đọc tập thơ Đỗ Phủ một lúc, rồi cũng cầm bút lên bắt đầu viết thư.
“Nam Bắc,
Nghe nói em đã sang Mỹ, anh ba e là khó lòng đợi được thư của em nữa rồi.
Em đi mà không nói với anh một lời, ý tứ trong đó đã quá rõ ràng. Anh biết mình nợ em quá nhiều, chắc hẳn em hận anh tới thấu xương, không thể tha thứ được nữa nên mới ra đi không lời từ biệt. Anh đến Bắc Kinh tìm em, hỏi thăm đến đây mà lòng đau như thể bị ai đó giật phăng đi một mảng da thịt. Nghĩ lại chuyện cũ năm bảy lăm, nhất thời anh chẳng phân biệt nổi là mơ hay thực, liệu anh có thực sự từng gặp em ở Bắc Kinh hay không, cũng khó lòng đoán định được nữa.
Anh thường nhớ lại những chuyện hồi em còn nhỏ, nhớ lúc anh hai và chị dâu còn sống, chúng ta cùng nhau ăn mì trộn rau kinh giới. Em thích ăn rau kinh giới, không biết bên Mỹ có món đó hay không. Em tới Mỹ, vốn dĩ không đến lượt anh phải lo lắng, nhưng cứ nghĩ đến việc em thân gái dặm trường, nơi xứ lạ quê người, anh lại không khỏi lo âu. Sợ em ăn không quen, ở không quen, sợ em bị kỳ thị khi giao tiếp. Nước Mỹ quá xa xôi, lỡ như em có mệnh hệ gì, cha mẹ em làm sao có thể lập tức có mặt bên cạnh em được? Anh biết em thông minh, làm việc gì cũng đâu ra đấy, môi trường hiện tại cũng đã hoàn toàn khác xưa. Thế hệ du học sinh như các em sẽ không phải chịu nhiều khổ cực như những người Hoa buộc phải rời quê hương sang Nam Dương năm nào. Mỹ là quốc gia phát triển nhất thế giới, chắc chắn sẽ cho em một nền giáo dục tốt nhất. Em đi để mở mang tầm mắt với thế giới là điều đúng đắn, là điều mà người trẻ nào cũng khao khát. Tại sao anh vẫn lo âu như vậy? Rõ ràng biết là quá dư thừa.
Nơi này đang mưa. Hồi nhỏ em cứ náo loạn đòi ngủ cùng anh bằng được. Lúc ở Bắc Kinh, khi ôm em vào lòng, anh cảm thấy hoảng hốt cực độ. Là em sao? Một cô nhóc nhỏ tí xíu ngày nào giờ đã trưởng thành thế này rồi ư. Anh cứ nghĩ xem nên đối tốt với em thế nào, tâm trí rối bời, thấy đối với em thế nào cũng không đủ tốt. Em vẫn còn chịu gọi anh một tiếng anh ba, thực sự lúc này anh có chết cũng không còn gì hối tiếc. Anh thực sự đã ngỡ rằng chúng ta đã hòa làm một, không thể khăng khít hơn được nữa. Anh cảm kích đến mức chẳng biết làm sao cho phải, nhưng rồi mọi chuyện lại tan thành mây khói. Anh nghĩ mình đã quen với những sự hụt hẫng trong đời, nhưng với em, anh vẫn không biết phải nói sao.
Anh nào có khác gì kẻ khiến người ta phải hụt hẫng! Anh chưa bao giờ nhắc với em rằng, anh còn có một cô em gái nhỏ đã chết trong những năm tháng đói kém. Khi bọn anh bỏ con bé lại trên tảng đá, nó vẫn còn ngây thơ đòi anh bế bồng. Lúc đó anh đến bước đi còn không nổi, chẳng còn sức đâu mà bế con bé nữa, khoảng cách chỉ trong gang tấc mà như cách trở nghìn trùng. Con bé có lẽ đã bị sói tha đi, hoặc thậm chí còn thê thảm hơn thế, anh chưa bao giờ dám nghĩ chi tiết. Sau này, có lần thấy anh hai gục xuống bàn khóc, đợi anh ấy ra ngoài, anh lại gần xem cuốn sách đang mở trên bàn mới biết đó là bài Tế muội văn của Viên Mai. Viên Mai đau buồn vì em gái thứ ba của ông qua đời năm bốn mươi tuổi, còn em gái anh đến bốn tuổi cũng chẳng thể sống tới. Anh đã khiến em gái mình phải hụt hẫng, anh từng tự hứa với lòng rằng sau này tuyệt đối sẽ không dễ dàng để ai phải hụt hẫng vì mình nữa, nhưng sự đời chẳng toại nguyện, anh vậy mà đã làm em đau lòng. Nhà họ Chương vốn dĩ con đàn cháu đống, đến thời thiếu niên của anh thì đã tiêu điều đến mức chỉ còn lại mình anh. Nếu không có em, anh khó lòng vượt qua được những năm tháng ấy. Em đã mang lại cho anh niềm an ủi to lớn, cho anh dũng khí để sống tiếp, vậy mà anh lại chẳng thể khiến em được toại nguyện, ngược lại còn khiến em đau khổ khôn nguôi. Thời gian trôi qua, hồi bé em tin tưởng anh biết bao, giờ đây hố ngăn cách lại sâu đến vậy, đều do một tay anh gây ra. Cứ nghĩ đến điều đó là lòng anh lại đau như dao cắt. Nay em đã đi xa ngàn dặm, anh không biết liệu còn có thể gặp lại em thêm một lần nào nữa không. Nếu em gặp chuyện chẳng lành, anh có thể làm gì được cho em đây? Anh chưa học đại học, lại càng chưa từng ra nước ngoài, chẳng biết phong tục con người nước Mỹ ra sao, chỉ mong em làm việc gì cũng phải cẩn trọng, tuyệt đối đừng quá mạo hiểm, nhớ kỹ phải chú ý an toàn. Vạn nhất có chuyện gì hãy nhớ đến đại sứ quán tìm kiếm sự giúp đỡ, đừng để bản thân phải chịu uất ức, nhưng cũng đừng quá cố chấp. Trăm lời nghìn chữ, mong em muôn vạn lần hãy trân trọng bản thân. Một mình em nơi đất khách quê người, lúc này anh chẳng biết nói gì thêm, bảo trọng, hãy thật bảo trọng.”
Chương Vọng Sinh viết xong bức thư, giấy viết đã thấm ướt vài chỗ. Đợi thư khô hẳn thì đêm đã về khuya, thần trí anh mê muội ngồi trên chiếc ghế mây rồi khép hờ đôi mắt.